Nguyễn Văn Lý, tên tội đồ của dân tộc!

Trần Thanh

LỜI GIỚI THIỆU:

Bà Bảy Tiết Canh Vịt là dân Cần Thơ lên lập nghiệp tại Sài Gòn đã lâu. Trước năm 1975, bà đã từng là người trí thức, là phóng viên kiêm văn sĩ khá nổi tiếng. Sau năm 1975, bà đã quyết định treo viết, “giã từ vũ khí” và chuyển sang sinh sống bằng nghề bán quán. Nhờ có năng khiếu, bà đã nhanh chóng nổi tiếng nhờ hai món đặc sản miền Nam là “tiết canh vịt” và “hột vịt lộn”. Từ đó, người dân Sài Gòn đã đặt cho bà biệt hiệu là bà Bảy Tiết Canh Vịt.

Sau đây là những lời tố cáo của bà Bảy đối với tên việt gian Nguyễn Văn Lý, kẻ đã đi làm tay sai cho giặc, tiêu diệt hàng ngàn chiến sĩ chống cộng đang sống trong nước ….

1. Tên việt gian Nguyễn Văn Lý, kẻ đội lốt “linh mục” đi làm tay sai cho giặc.

Tóm tắt chân dung:

Vai u thịt bắp, mồ hôi dầu, chó đánh cả con. Nông dân hai lúa, dốt nát nhưng thích làm lãnh tụ. Một loại Xuân Tóc Đỏ thời đại, mượn chiếc áo “linh mục” để sống trên xương máu của đồng bào.

Năm 2001, Lý đã đưa ra bản văn Lời Kêu Gọi số 7, sặc sụa mùi hòa hợp hòa giải, ca ngợi kẻ thù, kêu gọi người quốc gia hãy quên đi quá khứ, xóa bỏ hận thù!

Tội ác lớn nhất của Nguyễn Văn Lý là đã bán đứng mấy ngàn thành viên của Khối 8406 cho cộng sản. Đây là những người dân ĐANG SỐNG TRONG NƯỚC, chỉ vì ngây thơ dại dột, nghe theo lời kêu gọi của “linh mục” Lý, đã cung cấp toàn bộ tên họ, nghề nghiệp, địa chỉ, số phone cho “cha”, để được tham gia Khối 8406, cùng với “cha” đấu tranh đòi “dân chủ và nhân quyền”!

Tất cả những thành viên này bây giờ đã hoàn toàn biến mất. Chắc chắn nhiều người đã chết bỏ xác trong những trại tù hoặc đã bị bọn giặc bí mật thủ tiêu! Khối 8406 hiện nay chỉ còn những tên điếm, cò mồi trong ban lãnh đạo, đang tiếp tục giăng bẫy để nhử những con mồi ngu dại khác chui đầu vào bẫy. Đó là những tên tội đồ như: Nguyễn Văn Lý, Phan Văn Lợi, Đỗ Nam Hải, Lê Thị Công Nhân, Trần Anh Kim, Nguyễn Chính Kết, Nguyễn Xuân Nghĩa, Nguyễn Xuân Vinh, Nguyễn Văn Canh ..v..v..

Đây, bộ mặt thật của con khỉ đột Nguyễn Văn Lý và những câu nói đầy bất nhân, lưu manh, lường gạt của hắn:

1. LÝ ĐÃ NÓI: Những nhân vật như các anh Nguyễn Phong, Nguyễn Bình Thành, Hoàng Thị Anh Đào chỉ là NHỮNG CON DÊ TẾ THẦN!!!

(Chú thích: Những người này trong ban lãnh đạo của đảng Thăng Tiến)

2. LÝ ĐÃ NÓI: Đồng bào hãy đi theo tôi để đấu tranh. Tôi đã được SÁU ĐỒNG CHÍ TRONG BỘ CHÍNH TRỊ ủng hộ. Tôi cũng được 700 trí thức cao cấp(!) ở trong nước yểm trợ. Ngoài ra, ở hải ngoại, tôi đã được rất nhiều thân hào nhân sĩ ủng hộ, kể cả nhiều nghị sĩ Mỹ trong quốc hội của Mỹ và nhiều tổ chức quốc tế ….

(Chú thích: Đây là lời NÓI LÁO, BỊP BỢM của tên việt gian Nguyễn Văn Lý. Sáu thằng chó đẻ nào trong Bộ Chính Trị, tại sao không dám nêu tên ra???)

3. LÝ ĐÃ KÊU GỌI: Nếu gia nhập Khối 8406, xin đồng bào hãy cung cấp cho tôi họ và tên thật, nghề nghiệp, địa chỉ, số điện thoại ..v..v…

(Chú thích: Nhiều người ngây thơ đã chết vì cái bẫy rập này do tên tội đồ Nguyễn Văn Lý giăng ra. Họ nghĩ rằng “cha” Lý là người tu hành, không lẽ đem bán họ cho bọn việt gian cộng sản, thế là đem giao trứng cho ác! Theo lời “cha” Lý quảng cáo, Khối 8406 đã được SÁU THẰNG CHÓ ĐẺ trong bộ chính trị bảo kê thì yên tâm rồi! Chưa hết, Khối còn được 700 trí thức cao cấp(!) cùng hàng chục ngàn THÀNH VIÊN BÍ MẬT (công an) trong nước yểm trợ! Còn nữa, Khối 8406 đã được TOÀN BỘ VIỆT KIỀU(?), cùng Quốc hội Mỹ và Liên Hiệp Quốc ủng hộ! Ối chu choa ơi, như vậy Khối 8406 cũng hùng mạnh không thua gì tổ chức Pháp Luân Công bên Trung Cộng!!!

Bọn giặc đã có rất nhiều kinh nghiệm trong việc giăng bẫy, tiêu diệt toàn bộ những người muốn đấu tranh chống lại chúng, bằng cách sử dụng những CON CHIM MỒI như Nguyễn Văn Lý, Lê Thị Công Nhân, Đỗ Nam Hải, Nguyễn Chính Kết, Nguyễn Hữu Lễ, Phan Văn Lợi, Thích Quảng Độ, Thích Không Tánh, Nguyễn Đan Quế, Nguyễn Xuân Vinh,Võ Văn Sáu, Lê Thị Kim Thu ..v..v..

Trong thập niên 1980, các tổ chức chống cộng của Trần Văn Bá, Mai Văn Hạnh, Lê Quốc Túy đều đã bị bọn giặc gài nội tuyến. Những bài học xương máu này, chúng ta đã không rút kinh nghiệm và đã tiếp tục bị lừa!

Mấy ngàn thành viên tham gia Khối 8406 chắc chắn là những người nhiệt tâm, thực sự muốn đấu tranh. Tiếc thay, họ đã bị bọn điếm chính trị của băng đảng Nguyễn Văn Lý đem bán đứng cho cộng sản!!!

Trước đây, bọn chó đẻ, điếm chính trị VietNam Exodus cũng giới thiệu một tổ chức “đấu tranh” được thành lập từ trong nước, mang tên là LẠC VIỆT, kêu gọi GIỚI TRẺ HẢI NGOẠI hãy tham gia, bằng cách khai rõ họ tên, nghề nghiệp, địa chỉ, số điện thoại!!!)

4. LÝ ĐÃ NÓI: Trong thời gian bị tù, tôi đã bị stroke BA LẦN. Cánh tay phải của tôi ĐÃ BỊ LIỆT!

(Chú thích: Đoạn phim video là bằng chứng xác thực nhất, chứng minh sự điếm xảo, vô liêm sỉ của tên Nguyễn Văn Lý, lừa gạt đồng bào một cách trắng trợn! Thế nào là “bị liệt”? Khi tay hoặc chân bị liệt tức là hoàn toàn không còn cử động được nữa. Xin đồng bào hãy xem kỹ đoạn video để thấy được sự gian xảo, nói láo không biết ngượng miệng của tên Nguyễn Văn Lý!)

5. LÝ ĐÃ NÓI: Thay đổi mà bất ổn định thì thà cứ để cho đảng Cộng Sản lãnh đạo!

(Chú thích: Qua câu nói này của Lý, bộ mặt chó săn đi làm tay sai cho việt gian cộng sản của hắn đã lộ ra quá rõ ràng!)

PHẦN KẾT LUẬN:

Đến thời điểm này, chúng ta có thể kết luận một cách dứt khoát rằng Nguyễn Văn Lý chỉ là một tên điếm chính trị, là con chim mồi của bọn việt gian cộng sản, là kẻ tội đồ của dân tộc. Cách đây hơn 10 năm, hắn đã nói rõ lập trường dơi chuột của hắn trong Lời Kêu Gọi số 7.

Biết hắn là dơi-chuột nhưng tại sao chúng ta vẫn bị lừa bịp, để đến bây giờ, ván bài lật ngửa, chúng ta mới sáng mắt?

Bởi vì:

1. Chúng ta NGU! Tiên trách kỷ hậu trách nhân. Chúng ta phải có can đảm thừa nhận rằng chúng ta đã quá ngu đần về phương diện chính trị nên đã bị bọn cộng sản lừa bịp LIÊN TỤC HƠN 60 năm mà vẫn chưa sáng mắt!

Đừng có tự hào và thủ dâm chính trị rằng người quốc gia là những người CÓ HỌC, còn bọn cộng sản là vô học, là lớp ba trường làng. Nó vô học mà nó đã đè đầu cưỡi cổ chúng ta liên tiếp hơn 60 năm! Nó là lớp ba trường làng mà biết bao nhiêu thằng trí thức chó đẻ ở hải ngoại cứ bò về Việt Nam, xin được bú cu cho nó!!!

Đây là điều hết sức nhục nhã và chúng ta PHẢI RÚT KINH NGHIỆM. Bọn việt gian cộng sản dốt về văn hóa và kiến thức khoa học nhưng về phương diện ĐIẾM XẢO, LỪA BỊP, cùng những thủ đoạn chính trị thì bọn chúng là bậc thầy thiên hạ!!!

Muốn chiến thắng bọn giặc thì chúng ta phải trí trá gấp trăm lần bọn chúng, chớ không phải moi hết ruột gan đem dâng cho chúng!

Tổ tiên chúng ta ngày xưa đánh giặc cũng phải dùng nhiều mưu mẹo, trí trá, ví dụ như Lý Thường Kiệt, Nguyễn Trãi ..v..v.. Tại sao chúng ta không biết noi gương tổ tiên mà cứ đi nghe lời bọn chó đẻ dân chủ cuội, bị bọn chúng xỏ mũi dắt đi như dắt một con bò!

2. Khoảng 90 phần trăm truyền thông ở hải ngoại đã bị lọt vào tay bọn giặc. Chúng ta là những người lính chiến đấu nhưng hầu như không có vũ khí. Một người lính ra trận mà ĐI HAI TAY KHÔNG, cứ đưa tấm thân trần ra cho bọn giặc nó bắn thì làm sao chiến thắng?

Bọn giặc đã lợi dụng ưu thế truyền thông ở hải ngoại nên tha hồ làm mưa làm gió, lèo lái cộng đồng theo ý bọn chúng muốn. Những bãi cứt trâu như Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Lý đã được bọn chúng thổi lên thành thần thánh, thành anh hùng dân tộc!

3.Sự hèn nhát của giới trí thức ở hải ngoại: Chắc chắn nhiều người ở hải ngoại đã thấy được sự lừa bịp của bọn giặc qua hai lá bài Lê Thị Công Nhân và Nguyễn Văn Lý nhưng họ đã không dám lên tiếng chống lại số đông áp đảo của bọn truyền thông bất lương! Họ sợ bị chụp mũ là “đánh phá tôn giáo, đánh phá anh hùng dân tộc”! Thôi thì mũ nỉ che tai, mình cứ hùa theo số đông cho chắc ăn! Mình “thổi kèn” cho Lê Thị Công Nhân, nếu có thổi nhầm đối tượng, cũng được tiếng là người “rộng lượng”, yểm trợ cho phong trào đấu tranh dân chủ ở trong nước!

4.Theo đóm ăn tàn, trây máu ăn phần: Nhiều tên lưu manh trong và ngoài nước đã biết rất rõ Lê Thị Công Nhân là con hoang của tên đại việt gian Lê Đức Anh nhưng bọn chúng đã lờ đi và cùng rủ nhau thổi nhân vật này lên thành “thánh nữ” và “anh hùng dân tộc”!

Để làm gì?

Xin thưa, bọn cơ hội chủ nghĩa này biết rõ Lê Đức Anh là tay sai đắc lực của bọn Tàu cộng, cha đẻ của Tổng cục 2 chính trị đầy quyền lực, tuy đã về hưu nhưng thế lực của hắn vẫn còn rất mạnh. Ngoài ra, tên chột mắt Lê Đức Anh có tài sản là hai tỷ rưỡi đô la, dựa hơi kẻ vừa có quyền thế vừa có tiền, chính là thái độ chính trị “khôn ngoan”, may ra được hưởng chút xương thừa canh cặn trong canh bạc bịp buôn xương bán máu của 85 triệu đồng bào!!!

PHẦN ĐỀ NGHỊ:

Qua biến cố Lê Thị Công Nhân và Nguyễn Văn Lý, chúng ta phải rút được những kinh nghiệm như sau:

1. Phải tập có thói quen suy luận. Tuyệt đối không để cho bọn truyền thông bất lương suy nghĩ giùm, giải thích giùm.

Ví dụ: Bọn giặc đã phóng lên internet nhiều tấm hình chụp Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Văn Lý đang đứng trước vành móng ngựa trong tòa án. Mới đây, bọn chúng cũng đã phóng tấm hình nhà văn Trần Khải Thanh Thủy bị hai “chiến sĩ gái” công an kè hai bên, dẫn ra trước vành móng ngựa. Tất cả những tấm hình chụp đều cho thấy rất rõ mặt của bị cáo.

Chúng ta hãy suy luận điều này: ngay tại nước Mỹ, nơi được xem là cái nôi của tự do, dân chủ của cả thế giới, cũng không bao giờ cho phép chúng ta chụp hình trong phòng xử án, ngay cả giới truyền thông cũng không được phép. Lý do vì khi vụ án đang được xét xử, bản án chưa được tuyên bố thì bị cáo vẫn được xem như người vô tội. Do đó, để bảo vệ danh dự cho bị cáo, giới báo chí không được phép chụp hình và đăng rõ họ tên của bị cáo trên báo. Đó là lý do vì sao chúng ta đọc báo hoặc xem ti vi, chỉ thấy họ tên của bị cáo được viết tắt, và chân dung của bị cáo chỉ là những tấm hình vẽ do các họa sĩ vẽ lại.

Một điểm nữa, chúng ta cần lưu ý là mọi người được tự do vào xem xử án nhưng tất cả các túi xách đều bị cảnh sát Mỹ khám xét rất kỹ, kể cả dùng máy rà kim khí để khám xét thân thể. Trong khi đó, ở Việt Nam, dưới chế độ độc tài toàn trị mà các “phóng viên” được quyền ngang nhiên đem máy chụp hình vào phòng xử án để chụp! Chúng ta cũng đã thấy những tấm hình chụp Lê Thị Công Nhân được đại diện của tòa đại sứ Mỹ thăm viếng TRONG NHÀ TÙ!!!

Những “phóng viên” nào đã được phép chụp hình như vậy?

Xin thưa, đó là BỌN CÔNG AN VIỆT GIAN CỘNG SẢN!

Và vì sao bọn chúng phóng những tấm hình đó lên internet?

Xin thưa, vì bọn chúng biết chắc là có lợi cho chúng. Bọn truyền thông bất lương ở hải ngoại sẽ quảng cáo giùm cho chúng rằng ở Việt Nam có tự do đối lập chính trị! Những thằng việt kiều ngu cứ thế mà quỳ lạy “thánh nữ” Lê Thị Công Nhân và tôn thờ “cha” Nguyễn Văn Lý!!!

2. Không tôn sùng bất cứ một thần tượng nào nhất là các nhân vật lãnh đạo tôn giáo.

Giả sử như Đức Giáo hoàng hoặc Đức Đạt Lai Lạt Ma khuyên chúng ta nên đầu hàng cộng sản, chúng ta vẫn phản đối và chống lại. QUYỀN LỢI CỦA 85 TRIỆU DÂN LÀ TRÊN HẾT!

Từ trước đến nay, bọn giặc đã lợi dụng tối đa các lá bài tôn giáo để làm cho chúng ta bị bại trận. Đó là lý do vì sao có sự ra đời của những tên cộng sản và tay sai như Thích Đôn Hậu, Thích Trí Quang, Thích Quảng Độ, Thích Không Tánh, Phạm Minh Mẫn, Nguyễn Hữu Lễ, Nguyễn Văn Lý, Phan Văn Lợi, Nguyễn Chính Kết ..v..v…

Chúng ta hãy nhìn một người chăn vịt để suy luận về điều này: một anh chăn vịt chỉ cần một cây gậy mà anh ta đã chăn được một đàn vịt đông đến hàng ngàn con. Vì sao? Vì anh ta chỉ cần điều khiển được con vịt đầu đàn. Con đầu đàn đi đâu thì cả đàn vịt đều ùn ùn đi theo, không cần suy nghĩ! Những chàng cao bồi chăn bò của Mỹ cũng làm việc theo nguyên tắc này: chỉ cần một vài anh chăn bò mà có thể lùa được hàng ngàn con bò đi theo bất cứ hướng nào mà các anh muốn!

Bọn việt gian cộng sản biết chăn bò và chăn vịt. Chúng nó không phải là “lớp ba trường làng” đâu mà là bậc thầy của chúng ta trong lãnh vực này!!!

Hiện nay, chúng ta đã mắc phải một thói quen rất tai hại, đó là trong bất cứ buổi sinh hoạt cộng đồng nào cũng phải mời cho được các đại diện CỦA HỘI ĐỒNG LIÊN TÔN hay liên tồn gì đó! Ban tổ chức rất khúm núm và trịnh trọng gọi đó là “những vị lãnh đạo tinh thần”! Ác hại thay, khoảng 90 phần trăm những thằng đang khoác áo “đại diện” các tôn giáo đều là cán bộ cộng sản! Nếu không phải là cộng sản thì bọn chúng cũng đều là loại ma cô, điếm đàng, lưu manh, đầu trộm đuôi cướp, lợi dụng tôn giáo để bòn rút máu tủy của đồng bào!

Do đó, muốn chiến thắng cộng sản, chúng ta phải xóa bỏ NHỮNG THÓI QUEN MÊ TÍN, cũng như nếp nghĩ ngu xuẩn rằng, chỉ có tôn giáo mới chống được cộng sản!!!

Trần Thanh

Ngày 1 tháng 5 năm 2010

@ Blog Nhà báo Việt Thường

“Người dấu mặt” trong phong trào dân chủ Việt Nam

1. Cách mạng Hoa Lài đã thành công vang dội ở Tunisia, Ai Cập và tiếp tục bùng phát mạnh mẽ, tích cực tại nhiều quốc gia Bắc Phi, Trung Đông. Các bạn trẻ và nhân dân Ai Cập sẽ không bao giờ quên được công lao to lớn của “Người giấu mặt” trong cách mạng hoa Lài. “Người giấu mặt” được ký giả Mike Giglio đặt cho anh Wael Ghonim trong bài viết “Người giấu mặt khơi mào cuộc biểu tình Ai Cập” đăng trên tờ Newsweek, được Như Nguyệt chuyển ngữ đăng trên Tuần Việt Nam (Vietnamnet.vn) ngày 15/2/2011. Mặc dù không giữ vai trò thủ lãnh, chỉ là một người đàn ông bình thường, 30 tuổi, cha của hai đứa con, “Người giấu mặt” đã sử dụng mạng xã hội facebook nhanh chóng liên kết các bạn trẻ và người dân Ai Câp cùng xuống đường, sát cánh bên nhau lật đổ độc tài, tham nhũng, khôi phục những giá trị dân chủ cho người dân Ai Cập.

Đọc xong bài báo, bên cạnh sự thán phục tinh thần nhiệt huyết, sự thông minh của anh Wael Ghonim, hồi ức về anh Trần Huỳnh Duy Thức bỗng dưng trở lại trong tôi. Tôi còn nhớ, vào thời điểm cuối năm 2007, khi thị trường chứng khoán Việt Nam bùng phát, thu hút hầu hết các tập đoàn, tổng công ty nhà nước tham gia, những người nội trợ cũng “đánh” chứng khoán, nhà nhà chứng khoán, người người chứng khoán, thì trên Blog Trần Đông Chấn xuất hiện bài viết “Việt Nam đồng đang ở đâu và sẽ về đâu”. Bài viết đã phân tích, chỉ cho mọi người thấy được bản chất của “nhóm lợi ích” – tác nhân bơm căng quả bóng chứng khoán nhằm trục lợi và khi xì hơi, người bị khốn khổ chính là nhân dân lao động, viên chức thường trong bộ máy nhà nước vì hám lợi, trót ném tiền vào chứng khoán. Sức sống của bài viết đã được trải nghiệm từ thực tế chứng khoán Việt Nam (xì hơi vào cuối năm 2007), đã làm cho Blog Trần Đông Chấn có số lượng người truy cập cao nhất nước (trên 4 triệu lượt). Lúc bấy giờ, tôi cũng như bao nhiêu bạn trẻ khác khát khao được gặp “bác” Trần Đông Chấn. Sau này, khi anh Trần Huỳnh Duy Thức, luật sư Lê Công Định, thạc sỹ Nguyễn Tiến Trung cùng bị bắt (tháng 7/2008), các bạn trẻ sửng sốt khi biết tin anh Thức chính là chủ nhân của ba Blog nổi tiếng là Trần Đông Chấn, Change Wee Need và Psonkhanh. Có thể nói, giữa anh Wael Ghonim ở Ai Cập và anh Trần Huỳnh Duy Thức ở Việt Nam có nhiều điểm tương đồng. Các anh đều là chuyên gia công nghệ thông tin: Wael Ghonim là Giám đốc Marketing Khu vực Trung Đông và Bắc Phi của Google (Google MENA), anh Thức là Tổng giám đốc công ty Internet Một Kết Nối. Cả hai đều hoạt động giấu mặt trên mạng, anh wael Ghonim sử dụng bí danh “ElShaheeed” (trong tiếng Ả-rập có nghĩa là “người tử vì đạo”), anh Thức là Trần Đông Chấn (Chấn có nghĩa là thay đổi). Cái giống nhau đáng để mọi người trân trọng là các anh đều đánh giá mình là những con người bình thường. Phát biểu trong ngày được phóng thích, Ghonim cho rằng: “Thực tế, tôi chỉ làm điều đơn giản nhất, đó là viết. Đến cuối cùng, thành công có được là nhờ sức mạnh của quần chúng“. Các anh đều hướng về quần chúng, anh Wael Ghonim chọn khẩu hiệu “Tất cả chúng ta là Khaled Said” (We are All Khaled Said), đó là tên trang mạng xã hội Facebook đã trở thành nơi phát động cuộc biểu tình lịch sử diễn ra cuối tháng 1 – đầu tháng 2/2011. Tên của nó được đặt để tưởng niệm một blogger đã bị cảnh sát thành phố Alexandria bắt giữ và đánh đến chết chỉ vì dám tung lên mạng đoạn băng video tố giác cảnh sát Ai Cập chia nhau chiến lợi phẩm sau khi bắt một vụ buôn lậu ma túy. Anh Thức cũng vậy, khẩu hiệu của anh thể hiện khát vọng của quảng đại nhân dân Việt Nam, cũng chính là khẩu hiệu tranh cử của Tổng thống Hoa Kỳ Obama: Change We Need.

2. Vấn đề đáng để các bạn trẻ Việt Nam chúng ta bàn luận đó là điểm khác biệt tạm thời (chỉ tạm thời thôi) giữa anh Thức và Wael Ghonim: thành công và chưa thành công; vai trò của “người giấu mặt” trong cuộc cách mạng hoa Sen, Đào, Mai hay Trống Đồng trong tương lai tại Việt Nam mà nhiều bạn đã đề cập trên mạng. Để có được sự thành công, cũng như những sự kiện khác, cách mạng dân chủ Việt Nam cần hội đủ các yếu tố theo quan niệm của người phương Đông: thiên thời, địa lợi và nhân hòa.
Thứ nhất, về thiên thời. Về vấn đề này, chúng ta có thể khẳng định độc tài chuyên chế, tham nhũng từ lâu được nhận diện là một thể chế lạc hậu, nhân loại lên án, tìm cách loại trừ. Độc tài, chuyên chế gắn liền với tham nhũng, gieo rắc bất công, phản dân chủ, kìm hãm sự phát triển của xã hội, tất yếu bị quần chúng đứng lên lật đổ. Cách mạng Hoa Lài ở Bắc Phi và Trung Đông đang tiếp diễn, cùng với các cuộc cách mạng hoa Tuy Líp, Cam, Nhung đã diễn ra trước đó, tạo ra niềm tin mãnh liệt cho các nhà dân chủ, bạn trẻ Việt Nam. Mặt khác, ngày nay, nhân dân bị áp bức trên thế giới đã có vũ khí cực kỳ quan trọng để loại trừ độc tài đó là mạng xã hội. Các thành tố tạo ra cuộc cách mạng thần kỳ của nhân dân Tunisia, Ai Cập chính là sự mục ruỗng, thối nát trong lòng xã hội được quản trị bởi sự độc đoán, tham nhũng; sự kết nối hữu hiệu quần chúng qua Internet. Liên hệ Việt Nam, bên cạnh Facebook, hàng loạt mạng nội địa ra đời như Zing Me, GoOnline, Yume, tamtay.net, CyberWorld, Kunkun,… trong đó Zing Me được đánh giá đang cạnh tranh quyết liệt với Facebook, nhanh chóng chạy đua các ứng dụng có thông báo dạng “feed” giữa nhóm bạn bè.
Gần đây, FPT Online tung ra bản beta mạng xã hội banbe.net. Ông Vương Quang Khải, Phó Giám đốc Công ty VNG, trưởng Dự án Zing Me cho biết, hiện nay có khoảng 40% dân số Internet Việt Nam đang sử dụng các dịch vụ mạng xã hội. Con số này không biến động nhiều so với các năm trước, nhưng về hành vi sử dụng đã có sự thay đổi lớn. Thói quen của người dùng chuyển từ những nhu cầu cơ bản ban đầu như viết blog, chơi game, sang những hoạt động hoàn toàn mới như chia sẻ trạng thái (status), ảnh (photo). Tỉ lệ người sử dụng mạng xã hội từ điện thoại di động cũng tăng lên rất nhanh, điều này phù hợp với xu hướng phát triển của hạ tầng 3G tại Việt Nam. Chính vì thế, năm 2010, được đánh giá có nhiều biến động đối với thị trường mạng xã hội Việt Nam. Theo dự báo của các chuyên gia mạng, năm 2011, Việt Nam tiếp tục bùng nổ mạng xã hội. Và như vậy, “người giấu mặt” hoạt động dân chủ trên mạng xã hội tại Việt Nam càng có đất để sống.
Thứ hai, về địa lợi. Sau 30 đảng CSVN thực hiện chính sách Đổi Mới, bộ mặt xã hội Việt Nam có nhiều thay đổi. Bên cạnh những thành tựu kinh tế quan trọng đã đạt được, mặc dù không còn nằm trong danh sách các nước nghèo, nhưng xã hội Việt Nam đang tiếp tục đối phó với nhiều thách thức nghiêm trọng về cải cách giáo dục, luật pháp; nạn tham nhũng, tội phạm có tổ chức tràn lan; cấu trúc nền kinh tế chưa phù hợp với tăng trưởng, gần đây là lạm phát, việc làm cho thanh niên và đặc biệt là sự chi phối của yếu tố Trung Quốc và Mỹ. Như chúng ta đã biết, cuối năm 2007, khi Trung Quốc tuyên bố thành lập thành phố hành chính cấp huyện Tam Sa bao gồm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, thuộc tỉnh Hải Nam, một số “người dấu mặt” diễn đàn X-Cafevn.org, Câu lạc bộ nhà báo tự do, thongtanxavanganh,… đã lên tiếng kêu gọi thanh niên, sinh viên học sinh, văn nghệ sỹ, trí thức xuống đường biểu tình chống Trung Quốc, phản đối lễ rước đuốc Olimpic Bắc Kinh 2008 đi qua thành phố Hồ Chí Minh. Thông điệp chống Trung Quốc đã được một số bạn học sinh, sinh viên, trí thức văn nghệ sỹ ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh hưởng ứng, xuống đường biểu tình trước Sứ quán Trung Quốc ở Hà Nội và Tổng lãnh sự của họ tại thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, khi Chính phủ Việt Nam quyết định cho Trung Quốc thực hiện dự án Bauxite Tây Nguyên bất chấp sự phản đối của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, một số tướng lĩnh và hàng ngàn trí thức trong và ngoài nước, “người giấu mặt” có nick “Nhóm người Việt Yêu Nước” đã kêu gọi các bạn trẻ mặc áo pull có các biểu ngữ phản đối Bauxite Tây Nguyên, chống Trung Quốc. Nhưng kết cục, người giấu mặt của nhóm Người Việt Yêu nước cũng chỉ dừng lại ở mức độ cảnh tỉnh mọi người mà thôi. Trước Đại hội đảng tòan quốc lần thứ XI, trên mạng xuất hiện các bài viết nói về sự cần thiết phải sửa đổi Hiến pháp 1992 của ông Nguyễn Văn An, nguyên chủ tịch Quốc hội Việt Nam và ý kiến phê phán văn kiện Đại hội đảng toàn quốc lần thứ XI của các ông Trần Phương, Vũ Khoan, nguyên Phó Thủ tướng Việt Nam, nhiều nhà dân chủ Việt Nam vội vàng đánh giá phong trào sẽ thêm nhiều thuận lợi. Rất tiếc, anh em quên rằng những người này đã một thời đặc quyền đặc lợi, được hưởng nhiều bổng lộc từ nhà cầm quyền. Việc làm của họ, có thể do bị hụt hẩng khi mất quyền lực, bất bình với số đương chức, nên đã góp ý “thẳng thắn”. Mặc dù là bất mãn, là người trong cuộc, nên những ý kiến của họ rất sâu sắc, xứng đáng được để nhà cầm quyền nghiên cứu điều chỉnh xã hội, tránh được sự xung đột của dân chúng, phong trào dân chủ lợi hay hại, mọi người tự phán quyết.
Thứ ba, yếu tố nhân hòa. Cả 03 yếu tố (hay là điều kiện) thiên thời, địa lợi, nhân hòa cho sự thành công đều quan trọng. Nhưng thiên thời không quan trọng bằng địa lợi, mà địa lợi không quan trọng bằng nhân hoà. Nhân hoà là thế nào? Nhân hoà là mọi người đều nhất trí. Nhân hoà là quan trọng hơn hết. Như đã nêu trên, tại Việt Nam số người tham gia mạng khá lớn, có không ít “người giấu mặt”, tiêu biểu là “Trần Đông Chấn” (Bloge cùng tên); “Hồ Gươm”, “Diên Vỹ”(trong X-cafevn),… nắm bắt được vấn đề “nóng” của xã hội đương đại, phát ra lời kêu gọi trên mạng, nhưng kết quả còn khiêm tốn, chưa đến mức độ để được nhìn nhận là tập dượt. Từ góc độ này, chúng ta có thể đánh giá, phong trào dân chủ dân chủ Việt Nam thiếu yếu tố nhân hòa, xã hội Việt Nam hiện nay có thể chưa “nóng” đến mức chỉ cần châm lửa là bùng cháy như ở các nước Bắc Phi và Trung Đông và rất có thể các bạn trẻ và dân chúng Việt Nam đã quá ngán ngẩm với những lời kêu gọi biểu tình, xuống đường xuất hiện nhan nhản trên mạng của các nhà dân chủ Việt Nam. Đã có một thời, tuổi trẻ và những ai khát khao dân chủ Việt Nam rất vui khi cụ Hoàng Minh Chính đứng ra tuyên bố thành lập phong trào dân chủ Việt Nam, tập hợp anh chị em trong và ngoài nước đấu tranh đòi quyền dân chủ đích thực cho nhân dân. Tuy nhiên, sau khi Cụ qua đời (2008), yếu tố nhân hoà của phong trào gặp nhiều khó khăn. Cứ mỗi lần có được thông tin nhà dân chủ này ăn chặn tiền nhà dân chủ kia; một số ít nhà dân chủ “chống” chính quyền nhằm mục đích được Mỹ xét cấp tị nạn chính trị; hoặc viết bài bóc mẽ, hạ nhục nhau trên mạng; lớp trẻ không thể không bi quan, lo lắng biết đến bao giờ phong trào thoát khỏi khủng hoảng.
Có một ai đó đã từng viết trên mạng, nhận định rằng phong trào dân chủ Việt Nam như chợ trời, ai cũng thích làm lãnh đạo, thích tuyên bố này nọ. Chỉ riêng tổ chức Khối 8406 do anh Đỗ Nam Hải, linh mục Phan Văn Lợi, anh Nguyễn Chính Kết đứng tên thôi, cũng đã có hàng trăm kháng thư, tuyên bố, lời kêu gọi trên mạng. Đọc riết rồi cũng chán, nhiều lúc nghĩ tiêu cực rằng sau khi cụ Chính qua đời, Công an đã nắm và điều khiển phong trào; hoặc giả thiết các nhà dân chủ cứ nằm im, chính quyền càng làm càn, quần chúng càng uất ức, tự phát đứng lên làm các mạng giống như nhân dân Tunisia, Ai Cập. Trong lúc suy tư vẩn vơ, Hiền Lương chợt nghĩ, nếu đảng CSVN tiếp tục duy trì tình trạng xa rời dân, không tập trung giải quyết những vấn đề bức xúc của xã hội, không giữ được Hoàng Sa, Trường Sa, lòng dân bất ổn chồng chất, được kết nối với nhau qua các trang mạng xã hội Facebook, Zing Me, GoOnline, Yume, tamtay.net, CyberWorld, Kunkun,… bởi những “người giấu mặt”, chắc chắn Việt Nam sẽ có sự thay đổi kỳ diệu bằng một cuộc cách mạng hoa Sen, hoa Mai, hoa Đào hay Trống Đồng nào đó, giống như cách mạng hoa Lài ở Tunisia, Ai Cập trong tương lai gần. Giả thiết cũng chỉ là giả thiết, mong lắm thay hương Lài từ Bắc Phi sớm thổi vào phong trào dân chủ Việt Nam một luồng không khí trẻ trung, tràn đầy sức sống mới, thế hệ trẻ Việt Nam có nhiều “người giấu mặt” tài năng và nhiệt huyết như anh Wael Ghonim ở Ai Cập, tiếp bước anh Trần Hùynh Duy Thức, sớm tạo ra đột biến cho dân chủ nước nhà.
Hiền Lương

Cấm xe máy người dân đi bằng gì?

Sài Gòn Tiếp Thị

SGTT.VN – “Xe máy là “đôi chân” nối dài của người dân TP.HCM. Nếu chúng ta “cưa” đôi chân này thì người dân đi bằng cái gì ? Nếu cấm xe máy thì ai có lợi? Tuyệt nhiên đa số là người sử dụng xe hơi có lợi vì họ không bị kẹt xe. TP.HCM là đô thị xe máy, người dân phụ thuộc vào xe máy… Tại sao chúng ta không nghĩ đến chuyện tìm giải pháp khác như làm đường cho xe máy để chuyển thành đô thị xe máy mà phải cấm nó?”

Đó là lời của TS Nguyễn Hữu Nguyên, trung tâm nghiên cứu kinh tế miền Nam (SVEC), tại hội thảo xoay quanh đề tài nghiên cứu “Đặc điểm cấu trúc đô thị và phân bố dân cư TP.HCM trong mối quan hệ gia tăng xe cá nhân” của TS Dư Phước Tân, viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM, được tổ chức sáng 12.10.

Theo TS Nguyên, vai trò của xe máy hiện nay chưa thể thay đổi và thay thế được so với nền kinh tế hiện nay. Do đó, không thể thấy cái gì không được thì cấm đi mà phải tìm giải pháp khác thích hợp hơn. Nếu không sẽ gây hậu quả “lợi bất cập hại”.

Vấn nạn kẹt xe buýt, ôtô

 

Xe buýt lớn trở thành nỗi khổ của người đi đường. Ảnh: Lê Hồng Thái

Đồng quan điểm, PGS.TS Nguyễn Minh Hòa, trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM cho rằng, với cái nhìn thật công bằng cho thấy một thành phố nườm nợp xe máy như TP.HCM hiện nay thì quả thật là không đẹp, gây cảm giác mất trật tự… nhưng nó lại là công cụ di chuyển hữu dụng nhất, rẻ tiền nhất, linh hoạt nhất hiện nay.

TS Hòa nêu ví dụ, nếu 5,5 triệu xe máy bỗng dưng biến mất sau một đêm ngủ dậy, lúc đó cả thành phố sẽ bị tê liệt hoàn toàn do không còn có khả năng vận động và ở một trạng thái khác: 2 triệu xe hơi thay thế xe gắn máy (vì 3,5 xe gắn máy bằng 1 xe hơi 4 chỗ) thì TP cũng bị tê liệt do hết chỗ vận động.

TS Hòa đúc kết, bất cứ chính sách đô thị nào cũng ở trong tình trạng “nhị nguyên”, tức có được, có mất. Xe máy sẽ tồn tại ít nhất là 10-15 năm nữa, nó chỉ giảm hẳn khi mà có những phương tiện thay thế khác được người dân chấp nhận. Do đó, giải pháp là làm sao khơi thông dòng chảy xe máy chứ không phải cấm hay hạn chế, cấm đoán.

Còn theo ông Nguyễn Văn Hiệp, phó giám đốc sở Xây dựng TP.HCM, đương nhiên xe máy quá nhiều như hiện nay khiến bất lợi nhiều đến giao thông nhưng không thể nói cấm là cấm ngay mà cần phải có lộ trình. “Nếu cấm xe máy, khuyến khích người dân đi xe buýt, xe hơi… đến lúc đó ai đảm bảo sẽ không kẹt xe ? Kẹt xe do xe máy còn “dễ thở” nhưng kẹt xe do xe buýt, xe hơi thì càng là vấn nạn”, ông Hiệp nói.

Theo ông Hiệp, nếu đi xe buýt để thay thế xe máy thì toàn bộ hệ thống hạ tầng về cầu vượt, hầm chui… và ngay cả hệ thống xe buýt cũng chưa đáp ứng được một phần cho người dân đi lại và chọn phương tiện này. Ông Hiệp bày tỏ quan điểm khi Bộ trưởng bộ Giao thông vận tải yêu cầu cán bộ ngành giao thông đi xe buýt một lần/tuần là việc hết sức khó khăn.

Tìm giải pháp “sống chung”!

 

Việc phát triển các hợp tác xã vận tải nhỏ, xe buýt mini, xe lam là một hướng đi cần thiết đối với các thành phố trong giai đoạn chuyển đổi. Ảnh: Lê Hồng Thái

TS Võ Kim Cương cho rằng, mục tiêu của giao thông đô thị là đảm bảo việc đi lại thuận lợi, an toàn và tiết kiệm cho người dân. Giao thông đô thị là bài toán tổng thể của toàn TP, không thể giải quyết từng khu vực riêng, cũng không thể giải quyết đối với một phương tiện riêng lẻ. Cách tiếp cận cần thiết là xác định tất cả các yếu tố liên quan đến mục tiêu của giao thông đô thị, xem xét tác động của từng yếu tố… để xác định giải pháp cần thiết. “Việc gây khó dễ và tiến đến cấm xe gắn máy như hiện nay chưa đánh trúng nguyên nhân vì sao 95% dân chọn xe gắn máy mà không chọn xe buýt (vì xe buýt quá nhiều bất cập, bất tiện). Do đó, không thể cấm mà phải tạo thêm thuận lợi cho phương tiện này để “sống chung” như làm thêm cầu nhẹ, đường giành riêng cho xe gắn máy”, TS Võ Kim Cương đề xuất.

Còn theo TS Nguyễn Minh Hòa, ngoài những việc giảm bớt sự phát triển cơ sở dịch vụ làm gia tăng dân số ở khu vực trung tâm, lựa chọn mô hình phát triển nhà cao tầng thuận lợi cho giao thông, tháo gỡ các điểm nút ách tắc giao thông do sai lầm trong thiết kế và xây dựng… còn có một nguyên nhân quan trọng để giảm xe gắn máy đó là việc phải nhanh chóng có những phương tiện thay thế đa dạng và đa cấp.

Bởi theo TS Hòa, hiện TP.HCM chỉ có một loại hình công cộng chủ lực là xe buýt lớn, trong khi đó loại phương tiện này không phù hợp (bao gồm nhiều nguyên nhân tổng hợp) với TP.HCM nên không thể phát triển. Do đó, cần phải đa dạng hóa loại phương tiện này.

TS Nguyễn Minh Hòa cho rằng, cần phải đa dạng chủ đầu tư vào hệ thống giao thông công cộng để tránh bù lỗ như hiện nay (từ đầu năm 2011 đến nay, TP.HCM phải bù lỗ cho xe buýt 800 tỉ đồng – PV). Không để phụ thuộc vào các công ty lớn, các đại gia… nếu không các “ông” này đòi đình công, chế độ đãi ngộ cao… là TP dường như bị tê liệt.

Ngoài ra, theo TS Hòa, TP.HCM cần phải phát triển trở lại phương tiện xe đạp và phố đi bộ. Nếu TP làm tốt và người dân có nhận thức tốt thì xe đạp sẽ trở lại thời hoàng kim, đến lúc đó xe đạp không phải là hệ quả và biểu tượng của đói nghèo.

 

Kịch bản nguy hiểm:

TS Dư Phước Tân, chủ nhiệm đề tài nghiên cứu trên, cho biết, toàn TP có 3600km đường, nhưng xe buýt chỉ đi qua 1000km đường. Muốn đi 2600km còn lại, không có lựa chọn nào khác là người dân phải dung xe cá nhân, chủ yếu là xe máy. Tuy nhiên, nếu cứ bảo vệ quan điểm khi nào có đủ phương tiện công cộng mới giảm dần xe máy, e là quá trễ. Với tốc độ đăng tăng xe máy như hiện nay, năm năm tới, ước tính TP có hơn 7 triệu xe máy so với 5 triệu chiếc bây giờ.

Dự báo, thời gian tới, khi kinh tế phát triển, nhiều người sẽ chuyển sang ôtô, trong khi phương tiện công cộng chưa có gì đột phá. Đây là kịch bản nguy hiểm. Do vậy cần ưu tiên hạn chế ô tô ngay từ bây giờ. Bên cạnh đó, cần giảm dần xe gắn máy, tiến tới cấm xe trên một số tuyến đường.

TS Phạm Xuân Mai, đại học Bách Khoa, sau khi phân tích thực trạng cũng đưa ra quan điểm “phải hạn chế sao cho tỉ lệ xe gắn máy tham gia giao thông giảm xuống dưới 50%”.

TỪ AN

Trung Quốc phản đối quốc tế hóa vấn đề Biển Đông

VnExpress.netVnExpress – Thứ hai, ngày 26 tháng chín năm 2011

Truyền thông Trung Quốc vừa lên tiếng phản đối mạnh mẽ việc một số nước có liên quan tới tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông gần đây muốn quốc tế hóa vấn đề này.> Philippines tổ chức hội thảo quốc tế về Biển Đông

Báo China Daily nhắc tới hội thảo của các chuyên gia luật biển ASEAN tổ chức tại thủ đô Manila, Philippines cuối tuần trước. Báo này cho rằng đề xuất của Philippines về một khu vực Hòa bình, Tự do, Hữu nghị và Hợp tác (ZoPFF/C) là đáng chú ý. Tuy nhiên, Manila đang tìm cách quốc tế hóa vấn đề Biển Đông và chia tách vùng biển này khỏi chủ quyền của Trung Quốc, thay vì tôn trọng thỏa thuận của mình về việc không làm phức tạp vấn đề Biển Đông.

Tại hội thảo nói trên, Philippines đưa ra đề xuất chia Biển Đông thành các khu vực có tranh chấp và không có tranh chấp. Các nước liên quan có thể tiến hành khai thác trên các vùng biển không có tranh chấp thuộc chủ quyền của mình, đồng thời sẽ cùng khai thác tại những vùng biển có tranh chấp. China Daily cho rằng đề xuất của Philippines có quá nhiều kẽ hở và không phù hợp với luật pháp quốc tế.

Báo này cũng nhắc tới việc Việt Nam và Ấn Độ gần đây có dự án cùng khai thác dầu khí tại những vùng biển vẫn còn có tranh chấp. Ấn Độ đã bác bỏ sự phản đối của Trung Quốc đối với dự án này, và cho rằng nó phù hợp với các quy tắc quốc tế.

Trong khi đó, hãng tin Xinhua cho rằng “chiến lược nhóm” (tạm dịch từ “bundling strategy”) tại Biển Đông là ảo tưởng. Những diễn biến gần đây tại Biển Đông chắc chắn sẽ làm phức tạp thêm tình hình và một lần nữa ảnh hưởng tới cả Trung Quốc và các nước có liên quan. Lần này, những nước không trực tiếp có liên quan tới tranh chấp trên Biển Đông như Ấn Độ và Nhật Bản cũng tham gia vào một vấn đề đang ngày càng nóng lên.

Theo Xinhua, những nước có liên quan trực tiếp như Việt Nam hay Philippines đang cùng nhau tìm cách tạo ra đối trọng với Trung Quốc, và cố gắng đạt được mục đích của mình thông qua “chiến lược nhóm”.

Hãng tin lớn của Trung Quốc cũng cho rằng Nhật Bản, nước vốn có tranh chấp với Trung Quốc tại quần đảo Điếu Ngư (Nhật gọi là Senkasu), đang sẵn sàng nắm bắt cơ hội can thiệp vào vấn đề Biển Đông, để nhằm vào Trung Quốc theo kiểu ăn miếng trả miếng.

Nhật Bản mới đây tổ chức cuộc thảo luận với nhiều nhà ngoại giao Philippines về việc “giải quyết các tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông”. Một nhà ngoại giao Nhật Bản sau đó còn nói rằng Tokyo có lợi ích trong việc đảm bảo vùng biển rộng lớn này ở trong tình trạng an toàn và rộng mở đối với giao thương.

Tờ People’s Daily của Trung Quốc hôm 20/9 cho đăng một bài viết có nội dung thông báo kết quả điều tra của các tổ chức có thẩm quyền, cho hay hai lô khai thác dầu khí mà Việt Nam muốn hợp tác với Ấn Độ đều nằm trong khu vực quyền tài phán của Trung Quốc. Vì thế việc này gây tổn hại tới chủ quyền của Trung Quốc.

Tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông trở nên nóng bỏng trong những tháng qua, sau những va chạm giữa tàu thuyền của các nước liên quan. Việt Nam và Philippines cùng một số bên liên quan luôn bày tỏ mong muốn giải quyết các tranh chấp bằng đàm phán đa phương. Tuy nhiên, phía Trung Quốc luôn khẳng định chỉ chấp nhận đàm phán song phương với từng nước liên quan.

Phan Lê

Xả vàng, giá vẫn tăng

Thanh Niên Online

Thêm 2 ngân hàng được bán vàng can thiệp thị trường nhưng giá vàng trong nước hôm qua đã tăng mạnh tới hơn 400.000 đồng/lượng.

Khoảng cách giữa vàng trong nước và thế giới lại được kéo lên hơn 1 triệu đồng/lượng bất chấp Ngân hàng Nhà nước (NHNN) áp dụng giải pháp “xả hàng kéo giá”.

Sẽ phải nhập vàng?

Với việc tăng mạnh trở lại trong phiên hôm qua, giá vàng trong nước hiện cao hơn giá thế giới trên 1 triệu đồng/lượng. Mức cao nhất trong phiên hôm qua là 1,5 triệu đồng/lượng.

Như vậy, sau khi cung ứng cả chục tấn vàng ra thị trường, giá vàng trong nước vẫn duy trì chênh lệch với giá vàng thế giới ở mức cao như nói trên và xu hướng này đang được dự báo sẽ còn tiếp diễn. Một lượng vàng lớn được tung ra thị trường nhưng hiệu quả không có. Các đơn vị tham gia cũng chưa có cơ hội để mua lại vàng trong nước với giá thấp để duy trì nguồn vàng bình ổn. Câu hỏi đặt ra là, điều gì xảy ra nếu giá vàng trên thế giới vẫn tiếp tục tăng và sức mua trong nước vẫn cao như hiện nay?

Câu trả lời đã có. Đó là tiếp tục đẩy mạnh bán vàng ra. Minh chứng cụ thể là NHNN bổ sung thêm 2 đơn vị được phép bán vàng ra thị trường, thể hiện quyết tâm xả vàng kéo giá đến cùng. Đến lúc đó, chúng ta sẽ buộc phải cho nhập khẩu lượng vàng mà các đơn vị này đã mua trên tài khoản. Đồng nghĩa với việc, một khoản ngoại tệ rất lớn sẽ được xuất đi. Trong bối cảnh cầu ngoại tệ gia tăng trong dịp cuối năm, khả năng xuất ngoại tệ, nhập vàng sẽ áp lực mạnh lên tỷ giá.

Không cần chờ lâu, hôm qua, tỷ giá trên thị trường đã tăng khá mạnh. Tỷ giá tăng, một phần do NHNN điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng nhưng không thể loại trừ tác động từ việc những NHTM được phép bán vàng huy động gom ngoại tệ để ký quỹ vàng tài khoản.

Hai cuộc cạnh tranh mới

Cuộc cạnh tranh đầu tiên là cạnh tranh lãi suất huy động vàng. Ngay sau khi NHNN cho phép một số đơn vị bán vàng ra thị trường, nhiều NHTM đã chính thức lao vào cuộc đua huy động lãi suất huy động vàng.

Từ mức 0,5% – 1%/năm, lãi suất huy động vàng ở nhiều NH đã được đẩy lên mức 1,5%; 2%. Điều này nghe có vẻ nghịch lý vì trừ 7 NHTM được NHNN cho phép bán vàng, các NH còn lại không được phép bán ra, họ tăng lãi suất huy động vàng vì lý do gì?

Nhìn lại diễn biến thị trường có thể thấy, việc đẩy mạnh huy động vàng của các NH là để “đón gió” cơ hội kiếm lời khủng. Bởi mới chỉ có 6 tấn vàng bán ra nhóm “5+1″ đã lãi trên 200 tỉ đồng (như Thanh Niên ngày 10.10 đã có bài phân tích). Hôm qua, tiếp tục thêm 2 NH được đưa vào danh sách này. Đương nhiên, tất cả các NH còn lại trong hệ thống đều có quyền hy vọng cũng như sẽ tìm mọi cách được tham gia vào danh sách bình ổn giá vàng để kiếm lời lớn như nhóm đang thực hiện. Vì vậy, họ đẩy mạnh lãi suất huy động vàng, chờ thời cơ cũng là điều dễ hiểu.

Như vậy, sau cuộc đua lãi suất tiền đồng, lãi suất USD mà NHNN đã phải áp trần để dẹp loạn, cuộc đua lãi suất huy động vàng đã được khởi động và rất có thể sẽ dẫn đến cao trào. Một trần lãi suất cho vàng là điều có thể dự báo nếu chúng ta không tính ngay từ lúc này.

Cuộc cạnh tranh thứ 2 là để được đưa vào danh sách các đơn vị được phép bán vàng ra thị trường trong hệ thống NH. Bởi ngoài chuyện được lời khủng như đã phân tích thì với các NH yếu thanh khoản, việc được phép bán vàng còn giúp họ có thêm một khoản tiền lớn để bổ sung nguồn vốn đang cạn kiệt. Cụ thể, huy động vàng, được bán vàng ra để có tiền đồng (VND), ngoài dùng một phần mua USD ký quỹ nước ngoài để mua vàng tài khoản, phần lớn còn lại là VND. Có nghĩa là huy động vàng có thể biến thành VND thay vì khó khăn khi huy động VND với lãi suất trần như hiện nay. Trong khi không hề có một tiêu chí, điều kiện nào trong việc lựa chọn các NHTM được phép bán vàng ra thị trường. Hoàn toàn có thể khẳng định, sẽ có một cuộc chạy đua để được tham gia vào danh sách này trong hệ thống NHTM.

Bán vàng bình ổn nhưng phải có chênh lệch dương. Các NHTM sẽ không bán vàng ra nếu không có chênh lệch dương. Còn với mức lợi nhuận lớn từ việc bán vàng bình ổn như hiện nay, dư luận hoàn toàn có thể đặt nghi vấn về việc bắt tay nhau duy trì mức chênh lệch cao để kiếm lời của các đơn vị được tham gia bán vàng bình ổn. Điều này cho thấy giá vàng trong nước khó có thể về sát với giá thế giới. Như vậy NHNN đã đặt mình vào vị thế yếu trong việc cung ứng ngoại tệ để nhập khẩu vàng sau này.

Nguyên Hằng

———————————————

Giá vàng, USD cùng tăng

Ngày 11.10, Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn – SJC công bố giá vàng miếng tăng trên 400.000  đồng/lượng so với ngày 10.10. Giá mua – bán vàng ở mức 43,4 – 43,72 triệu đồng/lượng, mức cao nhất trong ngày 43,6 – 43,9 triệu đồng/lượng. Lực mua vàng trên thị trường vẫn cao nên giá vàng trong nước kéo khoảng cách cao hơn giá thế giới lên 1 triệu đồng/lượng. Trong khoảng 3 – 4 ngày qua, lực mua vàng trên thị trường trên 10 tấn vàng.

Giá vàng ngày 11.10 bị tác động bởi giá USD tăng. NHNN Việt Nam điều chỉnh tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng thêm 15 đồng/USD so với ngày 10.10, lên 20.668 đồng/USD. So với đầu tháng 10, tỷ giá bình quân liên ngân hàng hiện tăng thêm 40 đồng/USD. Các ngân hàng thương mại điều chỉnh giá mua bán USD tăng thêm 15 đồng/USD, giá mua bán USD lên 20.855 – 20.875 đồng/USD. Giá USD trên thị trường liên ngân hàng tăng 190 đồng/USD, lên 21.340 đồng/USD. Giá USD tự do chạy theo sát giá USD trên thị trường liên ngân hàng.

T.Xuân

Làm dâu xứ Hàn – Kỳ 1: Lạc lối ở Seoul

Tuổi TrẻTuổi Trẻ – 2 giờ 30 phút trước

TT – Nhắc đến Hàn Quốc, người ta thường nghĩ ngay đến những hình ảnh lãng mạn, những khuôn mặt điển trai của các ngôi sao màn bạc. Cùng với trào lưu phim ảnh thời trang…, hai từ Hàn Quốc đang trở thành địa danh của “miền đất hứa”.

Đó là nơi mà nhiều cô gái Việt chọn như một quê hương thứ hai, bên một gia đình chồng nơi phương trời xứ lạ…

Phóng viên Tuổi Trẻ đã sang tận Hàn Quốc để khắc họa một cách đầy đủ và chân thật nhất chân dung cô dâu Việt tại nơi được xem là “miền đất hứa” này.

Cô dâu Đặng Thị Hai và chú rể Kim Yoon Kyu trong đám cưới ra mắt gia đình chồng tại Hàn Quốc – Ảnh: THẾ ANH

Chúng tôi đáp chuyến bay từ TP.HCM đến Incheon khi trời Hàn Quốc vừa sáng. Hành khách trên chuyến bay chủ yếu là những đôi vợ chồng Hàn – Việt vừa về thăm quê. Lẫn trong dòng người làm thủ tục là khoảng 20 cô dâu Việt mới lần đầu đặt chân đến Hàn Quốc với đôi giày không vớ và chiếc áo khoác mỏng manh dù ngoài trời âm 10 độ. Ở bàn làm thủ tục, nhiều người bối rối trước tờ khai, tiếng í ới gọi nhau như ong vỡ tổ. Nỗi lo sợ hiện rõ trên khuôn mặt còn rám nắng của những cô dâu trẻ.

Hội ngộ nơi quê chồng

Tranh thủ trong lúc chờ làm thủ tục, chúng tôi bắt chuyện với cô dâu Nguyễn Thị Hoa, quê ở Bạc Liêu. Hoa cho biết: “Được bạn bè giới thiệu, tôi đăng ký lấy chồng Hàn qua một số người môi giới. Sau khi đăng ký, tôi được gọi lên TP.HCM ở trong một ngôi nhà tại quận Tân Bình với khoảng 50 người nữa. Ban ngày thì phụ chủ bán cà phê, lúc nào có người Hàn đến xem mặt thì họ chở đến một khách sạn gần đó. Để tránh công an, nhiều lúc cuộc xem mặt được sắp đặt vào lúc giữa khuya. Chờ đợi đến hơn ba tháng thì tôi mới được chọn. Qua chọn vợ cùng chồng tôi là mẹ chồng.

Sau khi xem mặt xong thì đám cưới được tổ chức ngay ngày hôm sau. Xong đám cưới mẹ chồng tôi về trước, còn tôi với chồng đi Vũng Tàu chơi một ngày rồi anh ấy cũng về luôn, tôi ở lại chờ hoàn tất thủ tục mới bay qua sau. Tưởng sau đám cưới sẽ có chút đỉnh tiền giúp cha mẹ, nhưng ai ngờ những người môi giới chỉ đưa cho gia đình tôi được 5 triệu đồng…”.

Khi được hỏi về thông tin của chồng, Hoa thật thà: “Tôi cũng chẳng biết ảnh làm nghề gì, thu nhập bao nhiêu, gia đình có bao nhiêu người. Chỉ biết ảnh năm nay 45 tuổi, đã có một đời vợ và hiện đang sống ở Seoul. Hi vọng là không gặp xui, vì tôi thấy ở quê mình ai đi lấy chồng Hàn Quốc cũng xây cho cha mẹ được nhà tường hết”.

Sợ chúng tôi không tin, Hoa rút từ túi quần ra một tờ giấy đã nhàu ghi tên người chồng theo cách phiên âm rồi nói thêm: “Tên ảnh tôi còn không nhớ nữa mà, lâu lâu phải lôi tờ giấy ra đọc cho quen. Qua đây tôi chỉ có số điện thoại của ảnh hà, ảnh mà không đón thì cũng chẳng biết đi về đâu…”.

Vừa qua khỏi cổng hải quan, những cô dâu trẻ đã nháo nhác tìm chồng. Ở sảnh sân bay, những ông chồng trông bằng tuổi cha chú họ cũng láo liên tìm kiếm. Người thì mang theo bó hoa, người thì cầm theo chiếc áo khoác, nửa mừng, nửa thẹn thùng dìu nhau về giữa gió tuyết. Đấy là lần thứ hai họ gặp mặt nhau dù đã là vợ chồng!

Hơn một giờ sau, ở sảnh chờ của sân bay chỉ còn lại một mình cô dâu Đặng Thị Vân. Trên tay cô cầm tờ giấy ghi số điện thoại của chồng, cô chạy đi chạy lại trước chiếc điện thoại công cộng. Nhiều lần gọi điện cho chồng nhưng không liên lạc được, Vân bật khóc: “Có ai giúp tôi với, giờ chồng không ra đón thì tôi biết đi về đâu”.

Sau một hồi chờ đợi, cuối cùng chồng Vân cũng tới trong bộ đồ công nhân vừa tan ca đêm. Như nhiều cô dâu Việt khác trong ngày đầu tiên đặt chân về nhà chồng, Vân cũng chẳng biết điều gì sẽ chờ đợi mình ở phía trước.

Bất chợt tôi nhớ đến lời tâm sự của một cô dâu đã ly dị chồng gặp trên chuyến bay: “Ngày mới qua tôi như một đứa trẻ con lớn xác. Tiếng không biết, chữ nghĩa cũng không, lại không nghề nghiệp, mọi thứ đều lệ thuộc vào gia đình chồng. Với đa số, khi lấy chồng Hàn Quốc nghĩa là chấp nhận cuộc chơi đỏ đen của số phận. Nhiều người đã cảm thấy lạc lối ngay từ ngày đầu tiên bước chân đến nhà chồng…”. 

 

Những cô gái VN xếp hàng để các chú rể Hàn chọn tại một trung tâm môi giới ở quận Tân Bình, TP.HCM… – Ảnh: T.A.

Thiên đường ảo vọng

“Qua Hàn Quốc, mỗi cô dâu Việt giữ một quả đồi”, đó là câu nói cửa miệng nửa đùa nửa thật của nhiều người mà chúng tôi thường nghe thấy trong hành trình khắc họa những chân dung cô dâu Việt ở xứ sở kim chi. Họ nói về cảnh cô quạnh, theo nghĩa đen và bóng, của những người con gái Việt khi đến xứ Hàn. Với cô dâu Nguyễn Thị Vân cũng vậy, những tưởng qua Hàn sẽ được làm dâu ở một thành phố hiện đại, ai ngờ nơi chị về làm dâu cũng hẻo lánh chẳng khác gì miền núi Bắc Giang quê chị. Vẫn đèo núi heo hút, vẫn những cánh đồng bậc thang với cái cuốc, luống cày…

Vân sinh năm 1982, quê huyện Yên Dũng, Bắc Giang. Chị biết đến người chồng của mình qua những người môi giới cách nay ba năm. Vân nhớ lại: “Trong một lần về thăm quê, người hàng xóm của tôi lân la bắt chuyện rồi kể về cuộc sống ở Hàn Quốc như một thiên đường. Người này nói chỉ cần đăng ký lấy chồng Hàn, khi đặt chân đến sân bay Hàn Quốc rồi thì chẳng bao giờ muốn về VN nữa. Hai tháng sau, người hàng xóm cùng những người môi giới dẫn về một người đàn ông mà theo họ nói là một giám đốc ở Seoul, mới 40 tuổi…”.

Đám cưới vội vàng diễn ra ngay sau ngày gặp mặt. Chồng chị về nước trước, còn Vân được người môi giới đón qua sau. Sự thật phũ phàng bắt đầu hiện ra sau cái ngày Vân bước về nhà chồng. Cô kể trong tiếng cười chua chát: “Qua đến sân bay, những tưởng nhà chồng ở ngay thành phố, ai ngờ người môi giới chở đi hoài đi hoài mới tới. Vừa bước ra khỏi xe thì tôi hỡi ôi, xung quanh bốn bề là núi non, căn nhà của chồng lọt thỏm giữa cánh đồng heo hút. Đón tôi ở cổng là một bà già ngoài 80 tuổi, trên tay cầm củ khoai lang nhai móm mém… Tôi bật khóc và đòi về nước ngay, nhưng những người môi giới không cho nên đành buông xuôi theo số phận!”.

Nơi Vân về làm dâu là một làng quê nghèo thuần nông ở ngoại ô thành phố Dangjin, cách Seoul gần 200km. Chồng Vân không phải là một giám đốc như người ta từng giới thiệu, mà chỉ là một nông dân bình thường, đã có một đời vợ với hai đứa con riêng. Người đàn ông đó cũng không còn trẻ như cô từng biết mà đã ngoài 52 tuổi, gần gấp đôi tuổi Vân. Và ngoài việc làm vợ, hằng ngày cô còn phải chăm sóc người mẹ chồng già nua, lẩm cẩm…

Không biết lấy một từ tiếng Hàn để giao tiếp, không biết gì về văn hóa nhà chồng, Vân cô độc trước những câu hỏi lớn của đời mình: Chấp nhận ở lại hay quay về? Nếu ở lại, mình sẽ là nàng dâu hay người ở? Và rồi Vân đã chấp nhận ở lại, vì dù sao cũng đã lỡ bước sang ngang… Cứ thế, cuộc sống trôi qua một cách buồn bã và tẻ nhạt. Ngày hè thì Vân ra đồng phụ chồng hái ớt, trồng rau; ngày đông thì chăm con, phục vụ mẹ chồng già nua… Giữa chốn đồi núi heo hút, chỉ mình Vân với nỗi tủi hổ làm dâu xứ lạ. Từng mùa đông cứ lặng lẽ đi qua, mặc cho những nếp nhăn trái mùa hằn nỗi buồn lên tuổi xuân đời cô…

 

THẾ ANH

—————————————-

Một tay xoa bụng bầu, Lan kể có lần do không biết tiếng, mẹ chồng bắt chị quỳ gối, hai tay nâng ghế suốt đêm. Có lần xích mích, mẹ chồng xé hết quần áo rồi đuổi ra ngoài trong trời giá rét… Không phải là chuyện phổ biến nhưng ở nhà tạm lánh này đó là chuyện thường tình…

Kỳ tới: Chuyện từ nhà tạm lánh

Một Luật Sư Từ Hà Nội Viết Về Lê Thị Công Nhân

Tôi sẽ đánh giá rất cao việc anh NDQ, chồng LTCN đi biểu tình đến ngày giờ gay cấn nhất nếu không có những chuyện khuất tất, gian dối làm người ta không thể không nghi ngờ “lòng yêu nước” của anh chị.

1, Tại sao vào anh NDQ vào miền Nam gặp anh em dân chủ trong đó, mà cụ thể gặp LTKThu để ăn trưa, anh em dân chủ đi biểu tình ngoài Hà Nội biết cả, anh em dân chủ trong Nam cũng biết, Kim Thu cũng đã trả lời anh Chim Quốc Quốc là họ đang hẹn nhau đi ăn nhưng bất ngờ bị công an bắt mà LTCN lai phóng ra bản tin là đi biểu tình trong SG bị bắt,ra tiếp bài viết trên tiếp tục khẳng định là NDQ đi biểu tình trong SG? Thật tiếc, làm gì cứ thật thà, có sao đâu mà cứ phải dối trá, nó có làm tăng giảm đáng kể gì uy tín vợ chồng cô đâu mà chỉ vì đánh bóng, tôn vinh cho anh chồng mà bất chấp tất cả như vậy. Cô có hiểu được rằng “Một sự bất tín vạn sự bất tin không”? Đừng vơ vét sạch sự kính trọng, yêu mến còn sót lại của anh em dân chủ trong nước dành cho cô.

2. Tại sao trước những thông tin mà Danchuleak đưa ra “xúc phạm” nghiêm trọng đến danh dự, phẩm hạnh, uy tín cả vợ lẫn chồng mà cô không có lấy một lời thanh minh. Cô có biết là đang trút sự khả ố này lên uy tín phong trào dân chủ trong nước không? Đừng bao biện đó là lời người phụ nữ ghen tuông mà không chấp nhé. Cố công xây tượng đài trên nền móng thối rữa thì chỉ là công dã tràng thôi!

3. Xa lánh anh em dân chủ trong nước và xa lánh thực tiễn chỉ khiến cho các bài viết của cô ngày càng lố lăng, thiếu nhựa sống thôi. Càng viết cô càng phơi bày sự “thê thảm” của mình. Chưa kể chỉ biết lấy ông chồng làm “nguồn viết” duy nhất cho mình thì “tượng đài” thế chân cô sẽ cáo trung luôn cho cô đấy. Và liệu cô có “nâng đỡ” nổi sự nghiệp đấu tranh của anh ta không, anh ta có bao giờ thoát khỏi váy vợ để nói vài câu cho có dáng gấp không?

Còn nhiều điều tôi muôn gửi gắm tới cô lắm, bởi đơn giản tôi như bao người từng thần tượng một cô luật sư dễ thương, ăn nói hoạt bát, mạnh mẽ. Song thần tượng ấy sụp đổ khi tôi nhận ra sự hèn hạ về tư cách, ngông cuồng, hợm hĩnh trong cư xử, sự dốt nát, thiển cận về tầm nhìn….và sự tột cùng thất vọng về kẻ tự cho mình là loài ăn bám xã hội, hút máu cộng đồng để tồn tại. Chấm hết.

Luật sư từ Hà Nội

Mguồn: http://danchuhollywood.multiply.com/journal/item/64

Vì đâu nên nỗi?

Tác động văn hoá của “đổi mới”xét như một mô thức phát triển

Vấn đề xuống cấp văn hoá và nếp sống hiện nay đã lan rộng đến mức báo động đỏ, khắp nơi đã có rất nhiều người lên tiếng cảnh báo thống thiết. Theo tôi thì đây không phải chỉ là sự suy thoái riêng rẽ và đơn thuần về đạo đức, văn hoá mà thực sự bắt nguồn từ cái mô thức phát triển tổng thể đã quy định sự suy thoái thuộc các lĩnh vực này.Tính chất trầm trọng của sự xuống cấp văn hoá đó cũng chính là ý nghĩa phá sản trầm trọng của một mô thức phát triển mang tính chất lịch sử mà chúng ta đã chọn và cũng vì vậy vấn đề đặt ra ở đây sẽ là vấn đề đi tìm nguyên nhân phá sản về mặt lịch sử của mô thức đó. Tôi có một bài viết đặt vấn đề một cách tương tự [xuất hiện trên Diễn Đàn, số 27, 01.02.1994],  tham gia một đề tài nghiên cứu do trung tướng Trần Độ đảm nhận cách đây gần 20 năm, nay xem lại thấy vẫn còn có những điều thích hợp nên nhân dịp này xin tóm tắt tinh thần bài viết đó vào vài điểm, có thêm  một vài ý bổ sung.

***

Trước hết, tôi cho rằng trong việc quyết định con đường phát triển của đất nước, chúng ta đã có một sự ngộ nhận trầm trọng khi đồng nhất khái niệm “chủ nghĩa xã hội” mà chúng ta đã chọn lựa vào thời cách mạng giải phóng dân tộc  với nội dung khái niệm “xã hội chủ nghĩa” mà chúng ta coi là hình thái kinh tế xã hội cần xây dựng để đưa đất nước vào con đường hiện đại hoá.  Logic của vấn đề ở đây là: công cụ A giúp chúng ta hoàn thành nhiệm vụ A thì nó cũng sẽ giúp chúng ta hoàn thành nhiệm vụ B.  Logic này cũng là cơ sở của luận điểm của Lenin về phong trào giải phóng dân tộc: phong trào này là một bộ phận của phong trào chống tư bản, đế quốc do quốc tế vô sản lãnh đạo nên sau khi dựa vào quốc tế vô sản hoàn thành cách mạng dân tộc rồi thì  phải tiến lên xây dựng ngay chủ nghĩa xã hội, không thông qua giai đoạn phát triển tư bản  để tiếp tục sự nghiệp chống đế quốc do quốc tế vô sản lãnh đạo.

Có thể trong điều kiện lúc bấy giờ, chúng ta có nhiều lý do để xác tín vào sự chọn lựa ấy,  nhưng những gì diễn ra về sau đã chứng minh rằng cái logic ấy không phù hợp thực tế. Bản chất của hai phạm trù – giải phóng dân tộc và phát triển xã hội –  là khác nhau hoàn toàn. Khái niệm “chủ nghĩa xã hội” mà chúng ta chọn trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc là khái niệm chỉ về chỗ dựa thực tế của một lực lượng ngoại tại. Chỗ dựa này tuy gọi là “phe xã hội chủ nghĩa” nhưng lại có nội dung đặc thù về lý luận lẫn lịch sử của  một thực thể chính trị cụ thể, gọi là Đệ tam Quốc tế,  lúc bấy giờ được cách mạng Việt Nam coi như cái “cần thiết”, cho cuộc đấu tranh –  và do hoàn cảnh đặc biệt của Việt Nam, cuộc chiến đấu chống xâm lược của chúng ta có phần phù hợp với sự chọn lựa đó, nghĩa là nghiêng về việc dùng bạo lực cách mạng để cướp chính quyền,  nên có người đã nói ở đâu đó – hình như nhà văn Nguyên Ngọc –  rằng sự chọn lựa đó chỉ mang tính chất tình thế, một chọn lựa “cực chẳng đã”,  chứ không phải và cũng không thể xem là một chọn lựa một lần cho mãi mãi, như một chân lý.

Tất cả nhưng khó khăn triền miên mà chúng ta gặp phải trong xây dựng sau khi đã hoàn thành cuộc đấu tranh giành độc lập và thống nhất chính là do chúng ta đã vẫn cứ xem việc chọn lựa mang tính chất tình thế ấy như một chọn lựa tuyệt đối, vĩnh viễn, giống như một người sau khi mò mẫm đi tìm đã nhận được của trời một cái cẩm nang thần kỳ, hễ mỗi lần gặp khó khăn, mở ra là giải quyết được mọi việc trên đời. Thực tế đã cung cấp nhiều bằng chứng cho biết sự chọn lựa của chúng ta không phải là một cái cẩm nang thần kỳ, và sự huyễn hoặc của sự thần kỳ này không thể viện dẫn “ lập trường”, “lòng tin” hay sự “trung thành” … mà  bảo vệ được. Đây là một vấn đề vừa học thuật vừa thực tế mà xét cả hai mặt này, cái mô thức mà chúng ta gọi là “chủ nghĩa xã hội”, ban đầu là một cương lĩnh xây dựng trực tiếp, sau này chuyển thành  một “định hướng” tiến lên lại không tìm được cơ sở nào để tự biện minh về tính chất nghiêm chỉnh và khả thi của nó, dù cho nó có được giải thích như thế nào, vận dụng cách nào đi nữa, bao lâu đi nữa.

Chúng ta thường cho là “khoa học” khi coi chủ nghĩa “Mác-Lênin” như cái kim chỉ nam tất yếu dẫn đất nước đi về tương lai tươi đẹp gọi là “xã hội xã hội chủ nghĩa”, nhưng phân tích đến cùng về mặt lý luận, chúng ta thấy việc dựa vào những biện pháp của Lenin để thực hiện các mục tiêu do Marx đề xuất chỉ tạo ra kết quả ngược lại với chính viễn cảnh xã hội tươi đẹp mà Marx đã hình dung, ấy là chưa nói đến việc khi phân tích đến nguồn gốc bản thân học thuyết Marx chúng ta đã có đủ luận cứ để chứng minh rằng đến  lượt nó, học thuyết về tương lai tươi đẹp này cũng  chỉ là kết quả logic hình thành từ một giấc mơ triết học, nhất là khi lại giao sứ mạng thực hiện cho một chủ thể hư ảo là “giai cấp vô sản”. Đó hoàn toàn không phải là xu thế phát triển của thời đại, cũng không phải là quy luật sinh thành của lịch sử như chúng ta đã ngộ nhận và thuyết minh mà chỉ là những phản ứng chính đáng nhưng lại mang tính mộng ảo của những người trí thức bức xúc trước những bất công gay gắt  của chủ nghĩa tư bản thời sơ khai mà cũng là thời kỳ chủ nghĩa tư bản đồng hoá với chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc.

Đem những luận điểm mộng ảo về lý tưởng đó ra thực hiện, và lại thực hiện bằng biện pháp toàn trị của một guồng máy quyền lực tự cho mình là đại diện duy nhất cho sự minh triết về Lịch sử ,  tất sẽ dẫn đến một hậu quả kỳ quặc mà Marx gọi là sự “phóng chiếu lộn ngược”, khái niệm này Marx sử dụng để chỉ  sự kiện lý tưởng của trường kinh tế cổ điển khi áp dụng vào thực tế đã đi ngược lại những nguyên lý do bản thân nó đặt ra. Với mô thức gọi là “chủ nghĩa xã hội” ở Việt Nam, hiện tượng đó cũng lặp lại: tất cả đều diễn ra ngược lại với cái mục tiêu mà chúng ta coi là  lý tưởng khi đem thực hiện sau khi đã thanh toán xong chủ nghĩa thực dân.

Về mặt kinh tế, mô thức đó không dẫn đến giàu sang, sung mãn mà chỉ có thiếu thốn, nghèo nàn; đường lối xây dựng đặt trên chủ nghĩa duy ý chí chỉ tạo ra những quyết sách quan liêu, ảo tưởng, tuỳ tiện,  nên không hề có phát triển vì động lực phát triển đã bị huỷ diệt. Về chính trị, những khẩu hiệu gọi là “do dân, vì dân, của dân” vốn là cơ sở của các cuộc cách mạng dân chủ đích thực, đã trở thành những hứa hẹn mị dân thô lậu, đem ra tuyên truyền chỉ mang lại những hiệu ứng phản tác dụng.  Xã hội công dân với những quyền dân sự tối thiểu đã bị đẩy vào “thế giới ngầm” bất hợp pháp và đất nước thì bị quản lý như  một  trại lính. Nhà nước mệnh danh “đầy tớ của nhân dân” thực chất là một hình thái Nhà nước-đảng, tập hợp từ ý chí chủ quan của một thiểu số tự lập và  tự giam mình trong những giáo điều phản hiện thực, cô lập với đông đảo xã hội, duy trì sự tồn tại của mình bằng cách áp đặt một cung cách quản lý bằng mệnh lệnh từ trên rót xuống theo kiểu chiến tranh, một chiều, độc đoán.  Kết quả: không có phát triển mà cũng không có dân chủ và công bằng.

Người ta không thể không đặt ra câu hỏi: tại sao đất nước lại chọn con đường này, đó có phải là con đường tất yếu? Có rất nhiều câu trả lời xuất phát từ nhiều quan điểm khác nhau. Có quan điểm cho rằng mọi việc đã bắt đầu từ Đại hội Tours, năm 1920, khi Nguyễn Ái Quốc chuyển hướng từ chủ trương canh tân ôn hoà của Phan Châu Trinh sang con đường cách mạng cực đoan của Đệ tam Quốc tế.  Cũng có ý kiến muốn lấy năm 1923 làm cột mốc giải thích khúc quanh cho số phận của Việt Nam khi Nguyễn Ái Quốc từ giã môi trường hoạt động khuynh tả ở nước Pháp dân chủ để sang Nga hội nhập vào mô thức chuyên chế kiểu phương Đông.

Tất cả đều có lý do để biện luận, tuy vậy theo nhận định của nhiều người khác thì chính xác nhất có lẽ phải kể đến thời điểm 1949 khi cách mạng Trung quốc thành công nhờ đó Việt Nam tìm được một căn cứ địa trực tiếp, lâu dài, làm chỗ dựa vững chắc để củng cố và đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống thực dân, nhưng cũng từ cái cột mốc thời gian “cần thiết” sinh tử  với độc lập dân tộc đó mà cách mạng Việt Nam, dưới nhiều hình thức, đã tạo điều kiện cho sự du nhập vào tổ chức của mình một hệ tư tưởng tệ hại nhất trong những hệ tư tưởng gọi là “xã hội chủ nghĩa” phản Marx nhưng vẫn  nhân danh Marx để giải phóng loài người – đó là chủ nghĩa Mao, một thứ chủ nghĩa Stalin “mang đặc điểm Trung quốc”.

Bằng những cuộc chỉnh huấn tư tưởng, nếu chủ nghĩa Mao đó đã bơm được máu đen vào cơ thể Đảng Việt Nam thì về mặt xã hội, bằng khuyến dụ những cuộc tàn sát truy bức mệnh danh “đấu tranh giai cấp”,  “cải cách ruộng đất”,  nó đã  đào bới đến tận gốc rễ nền văn hoá truyền thống của dân tộc – bằng cách đưa lên hàng chính diện các nhóm đân cư hạ đẳng nhất của xã hội, biến các tầng lớp này thành lực lượng nồng cốt thực hiện đường lối xây dựng “xã hội mới” theo mô thức Mao, đồng thời khuấy lên từ đáy sâu của lịch sử dân tộc các tính chất cặn bã nhất của con người là sự ngu dốt, cơ hội, ti tiện, hẹp hòi, thù hận… biến chúng thành  hệ giá trị làm nền cho mọi hoạt động tinh thần mà dấu tích vẫn còn hằn sâu vào đời sống văn hoá của đất nước cho đến ngày nay, chưa biết đến bao giờ mới gột sạch được.

***

Cần phải nói thêm điều quan trọng khác về sự ngộ nhận trên đây là sự ngộ nhận đó vẫn không hề chấm dứt khi, trước sự khủng hoảng và bất lực của mô thức cũ, chúng ta  buộc phải thay đổi chỉ đạo chiến lược về phát triển nhưng lại nhằm mục đích tạo cho hình thái kinh tế xã hội đã chọn một số thuộc tính mới cốt chỉ để duy trì cho được con đường đi lên  mệnh danh “chủ nghĩa xã hội” trong điều kiện “phe xã hội chủ nghĩa” đã sụp đổ,  bằng cách khai sinh ra chủ trương gọi là “đổi mới”. Nguồn gốc của đường lối này thật sự không mới lắm. Nó đã bắt nguồn từ  NEP của Lenin: nắm vững chuyên chính của Đảng-Nhà nước – tôi không dùng khái niệm “chuyên chính vô sản” vì chẳng thấy có chút gì gọi là vô sản trong cấu trúc của thực thể Đảng-Nhà nước do Lenin lập ra cả – cho phép một bộ phận tư sản trước đây bị cấm đoán nay được hoạt động trở lại để giải quyết sự bế tắc của hình thái gọi  là “xã hội chủ nghĩa thời chiến”, thực chất là thứ chủ nghĩa  xã hội phản mác xít tư biện, không tưởng và giáo điều.

Thực sự  thì theo chiến lược cách mạng quen thuộc của Lenin, “chính sách mới ” đó chỉ là thủ thuật chính trị áp dụng vào kinh tế gọi là lùi một bước để chuẩn bị tiến lên hai bước. Cốt tuỷ của vấn đề ở đây là sử dụng có kiểm soát thật nghiêm nhặt khu vực tư  bản tư nhân để hỗ trợ cho hình thái chủ nghĩa tư bản nhà nước đang được xây dựng vốn là thực chất của danh xưng “chủ nghĩa xã hội” theo mô thức Lenin. Vì thế mô thức này, những nhà nghiên cứu phương Tây về sau đã hoàn toàn có lý khi gọi là chủ nghĩa Lenin-thị trường (market-Leninism) và cho rằng những gì mà Việt Nam (hiển nhiên có cả Trung quốc)  áp dụng hiện nay vẫn xuất phát từ một phiên bản gốc.

Để giải quyết những khó khăn do thứ chủ nghĩa xã hội giáo điều và không tưởng gây ra sau những năm cải tạo triệt tiêu nền sản xuất hàng hoá, một bộ phận lãnh đạo của Đảng (đặc biệt ở miền Nam) đã cho phép “bung ra” với số một số thể nghiệm “xé rào” cục bộ hướng về mô thức nói trên từ 1979, nhưng phải đợi đến sau 1986 với ảnh hưởng của chính sách perestroika, kế đến là sự sụp đổ của Đông Âu và Liên xô thì mới hình thành rõ rệt như mô thức “đổi mới” đúng nghĩa, và diễn ra trên phạm vi toàn quốc.

Lý luận về “bước lùi” thoả hiệp tạm thời của Lenin ở đây đã bị đẩy xa hơn nhiều lần về khoảng cách:  kinh tế thị trường ngày càng được xác lập đồng bộ hơn  qua sự hợp tác với thế giới tư bản, của cải xã hội xuất hiện phong phú  do các nguồn đầu tư và nhập cảng từ bên ngoài, xã hội thoát khỏi tình trạng chia đều sự nghèo đói trầm kha thời kỳ mệnh danh là “quan liêu bao cấp”. Giai cấp trung lưu tư sản dựa vào hoạt động kinh tế của nhà nước đã xuất hiện trở lại, tuy còn yếu ớt nhưng đã trở thành một thực thể quan trọng, xã hội công dân cũng từ đó được phục hồi đóng vai trò chủ động nhiều hơn cho sinh hoạt nhiều mặt của cộng đồng, một số quyền tự do dân sự, chủ yếu trong lĩnh vực đi lại, làm ăn, học tập  đã được nới lỏng hơn nhiều so với trước đây.

Nhưng để quản lý tình trạng  mới này, nhân danh sự ổn định chính trị,  nhân danh chủ trương  kiên trì tìm đường “tiến lên chủ nghĩa xã hội”, các nhà ý thức hệ của Đảng vẫn bám chặt vào hệ tư tưởng đã chọn từ thời chiến tranh chống thực dân – trải qua nhiều lần nhào nặn đã thấm đẫm nội dung bị maoít hoá –, với những phạm trù lý luận quen thuộc, mòn sáo, lạc lõng, hoàn toàn bị những diễn biến mới của thực tế  phủ định (như chuyên chính vô sản, truyền thống cách mạng, xu thế tất yếu của  thời đại, sự tất yếu của chủ nghĩa hội, sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất, quốc doanh là chủ đạo, sở hữu toàn dân về đất đai  v.v…), bất khả thi hoàn toàn nhưng vẫn được sử dụng cho mục đích duy trì tính chính danh đã quá mòn mỏi, suy yếu của Đảng, bằng những thủ đoạn gò ép giả tạo (gọi là điều tiết) buộc sự vận hành của kinh tế thị trường  phải khuôn nắn theo những chính sách được quy định bởi những phạm trù lý luận giáo điều nói trên, và cũng chính vì vậy mà cản trở cuộc sống xã hội phát triển tự nhiên theo hướng cần phải có, cho nên xét trên tổng thể, mô thức phát triển gọi là “đổi mới” này, bên cạnh kết quả tích cực về vật chất,  đã làm phát sinh những phản ứng chống trả của thực tế, biểu hiện trên bình diện nếp sống và văn hoá một cách tiêu cực và cực  đoan như mọi người đều biết.

Các phương tiện truyền thông đã nói nhiều, nhưng tập trung nhất có lẽ phải kể đến hiện tượng bùng nổ – mang tính bù trừ sau một thời kỳ lâu dài các nhu cầu bị đè nén – của một thứ chủ nghĩa vật chất, mang màu sắc chụp giật dung tục, trắng trợn chưa từng có trên đất nước, lan tràn như một bệnh dịch, lau lách xâm nhập vào toàn bộ các ngõ ngách của đời sống (kể cả những lĩnh vực được coi là thiêng liêng cao quý),  nổi bật nhất là khu vực công quyền với vai trò  “ đầu têu” của những tiết mục tiêu cực gây tai tiếng làm rúng động công luận,  thể hiện qua cả những quyết sách đặt nền trên sự thống soái của cái mà có người đã đặt tên là “chủ nghĩa GDP”, cặp theo đó là một thứ chủ nghĩa khác gọi là “chủ nghĩa thành tích vĩ cuồng”, đua đòi chơi trội, ngông nghênh, cùng với  thái độ liều lĩnh trong sự nhũng lạm, bòn rút, phung phí  của công, trắng trợn, tràn lan, bất chấp mọi hậu quả làm băng hoại môi trường tự nhiên và môi trường đạo đức.

Được thôi thúc bởi sự “điều tiết và lãnh đạo” của các cơ quan “cầm cân nẩy mực” đó, toàn bộ xã hội đã lao vào cuộc chạy đua cuồng điên tìm kiếm và tích tụ tiền tài, của cải  bằng mọi cách, hiệu nghiệm nhất có lẽ là những  thủ đoạn luồn lách để cấu kết với công quyền, chưa nói đến việc  lao vào bất cứ tội ác man rợ nào có thể thực hiện, bất cứ  hành vi phi pháp nào có thể nghĩ ra. Một thứ công thức mới dường như đã định hình giúp con người  nhanh chóng đi tìm sự thăng tiến cho đời sống vật chất hiện nay: không có tiền thì dùng bạo lực hoặc sự phi pháp để kiếm tiền, đã có tiền rồi thì dùng tiền mua quyền lực để kiếm thêm tiền vì quyền lực ngày nay cũng đã trở thành cái có thể đem bán để kiếm tiền…  Tiền kiếm được theo công thức đó vì thế không thể không đi liền với sự chà đạp lên nhân cách, với sự bất lương, với tội ác hoặc dẫn đến tội ác. Không biết chính xác đến mức nào nếu như chúng ta nói rằng đặc trưng của đời sống văn hoá  hiện nay là như thế! Và tình trạng ấy đã diễn ra trên khắp mọi vùng miền của đất nước, không từ một xó xỉnh nào!

Khi nhắc đến các hiện tượng nhức nhối này, chúng ta thường thấy xuất hiện các ý kiến đổ lỗi cho cái gọi là “mặt trái của kinh tế thị trường” hoặc do sự xâm nhập của “văn hoá phương Tây” khi đất nước mở cửa. Tất cả đều có, nhưng cần chú ý rằng, trừ những kẻ theo thuyết tôn giáo toàn thống hoặc những đệ tử trung thành với chủ nghĩa Stalin,  ngày nay không ai dám xác quyết sự xấu xa có tính bản chất của thị trường và văn hoá phương Tây cả. Những mặt tiêu cực của các hiện tượng văn hoá này là có thực nhưng vì được quản lý bằng một nền pháp quyền  thích hợp, tồn tại chung với những xu hướng khác, chúng  không có điều kiện để trở thành phổ biến, trùm lấp như ở nước ta.

Cũng không thể quy mọi điều tệ hại đã kể trên vào cái phạm trù  gọi là “tội ác của cộng sản” một cách khái quát như nhiều kẻ theo chủ nghĩa chống cộng thích nói bừa, vì cho  đến nay chưa bao giờ thấy xuất hiện trên hành tinh này một hình thức xã hội cộng sản nào đúng theo định nghĩa của nó cả,  trong khi đó nếu có những thứ “cộng sản” có thể gây ra tội ác thật sự thì đó chỉ có thể là những thứ mang tên  cụ thể như Stalin,  Mao Trạch Đông, Pôn Pốt hoặc gì gì  đó thôi. Mà giả sử các thứ  gây ra tội ác này tự nhân danh hoặc được quy cho là “cộng sản” thì những thứ gọi là “tôi ác” ấy, chúng ta có thể khẳng định như đinh đóng cột rằng chúng không hề bao gồm những  cuộc rượt đuổi một cách điên cuồng theo đồng tiền!

Rốt cuộc thì đối với vấn đề suy thoái đạo đức, văn hoá ở Việt Nam hiện nay thiết nghĩ chúng ta không thể đem các thứ cộng sản hoặc tư bản trừu tượng  ra giải thích mà phải tìm đến sự giao thoa và cộng hưởng của hai cơ sở lý luận “dỏm” dẫn xuất từ những nguồn gốc đó: đó là thứ chủ nghĩa cộng sản mạo danh, biến thái  cùng với cái mặt trái của nó là thứ chủ nghĩa tư bản sơ kỳ, man rợ! Để hai thứ  này riêng ra chúng sẽ đi theo con đường của chúng mà tiết ra nhưng độc tố riêng biệt, nhưng khi để chúng kết lại với nhau thì chúng sẽ quyện lại thành một thứ chủ nghĩa thực dụng sùng bái quyền lực do vật chất mang lại, có sức tàn phá đặc biệt ghê gớm với bất cứ những gì cản trở đường đi  của nó: trong khi đưa lên bàn thờ con bò vàng và sử dụng những thủ đoạn chính trị tàn độc và dối trá nhất để bảo vệ ngẫu tượng đó, nó cũng nhân danh những mục tiêu thực dụng trước mắt để hạ bệ mọi cung cách ứng xử trung thực, trong sáng trước cuộc sống, làm tan chảy tất cả những ý thức phản kháng chính đáng trước bất công, giam vào   tù ngục mọi lý tưởng lành mạnh, mọi  khát vọng tự do của con người … Đó là một hình thái  cực đoan nhất của chủ nghĩa hư vô về đức lý.

***

Trước tình hình xuống cấp tinh thần trầm trọng đó, mà sự tiếp cận đã được quy về cái mô thức phát triển cấu thành  bởi hai hình thái kinh tế xã hội  mang tính chất ý thức hệ tiêu cực và lạc hậu như đã phân tích ở trên thì việc trả lời cho câu hỏi  “làm gì” trước thực trạng chắc sẽ có thiên hướng tìm đến cái logic sau đây như một  tất yếu: phải tách rời hai hình thái ấy ra, không cho chúng cấu kết với nhau để nhân lên sự độc hại, rồi sau đó trong hai thứ ấy, tuỳ theo quan điểm, ta sẽ  chọn lấy một, cái này hoặc cái kia,  loại trừ những phần độc hại trong cái mô thức đã bị làm cho biến dạng, sửa đổi, canh tân và  phục hồi lại các nguyên lý thuần nhất của nó, trau chuốt cho nó có hiệu quả hơn để áp dụng vào thực tế. Chắc hẳn đề nghị ấy sẽ  bị  không ít người cho là giả tưởng, nhưng chúng ta vẫn thấy trong thực tế không ít  người nêu ra qua nhiều  hình thức khác nhau.

Chúng ta đều nghe biết trong hàng ngũ thuộc  thành phần “lương đống” một thời  của Đảng, có không ít vị đã phản ứng quyết liệt cái  đường lối gọi là “đổi mới ” hiện nay, cho rằng Đảng đã sai lầm khi từ bỏ các nguyên lý của chủ nghĩa xã hội để chạy theo tư bản, và chính vì vậy mới làm cho mọi việc rối tung lên. Nhưng làm sao để phục hồi lại một Đảng cộng sản kiên trì được thứ  chủ nghĩa xã hội kiểu trước đây thì ngoài mấy khái niệm cũ được nhắc lại, không thấy ai nói rõ phải vận dụng như thế nào. Tốt nhất có lẽ là lập ra một Đảng cộng sản “đích thực” hơn để làm đối trọng với cái Đảng cộng sản lôm côm hiện nay, nhưng chắc chắn là không dám đề nghị vì sợ bị kết cho cái tội “chủ trương đa đảng”. Chúng ta cũng đọc thấy trên mạng trường hợp một vị quan lớn, hét ra lửa một thời,  thậm thụt bày tỏ  ý định rủ một số đồng chí trẻ đi lập chiến khu để làm lại tất cả, vì bây giờ mọi thứ đã hỏng hết rồi, nhưng rồi cũng chẳng thấy động tịnh gì cho đến khi chết. Tôi nghĩ mặc dù hoang tưởng nhưng mấy vị này không hoàn toàn vô lý: thứ chủ nghĩa xã hội cổ lỗ mà họ ôm ấp tuy có độc tài, trì trệ, nghèo đói, cả ác độc nữa  nhưng mọi thứ đều răm rắp đâu vào đó, tứ bề yên ổn, chay tịnh, chứ đâu có lộn xộn như thứ “chủ nghĩa xã hội thị trường” bây giờ!  Cứ nhìn sang Bắc Triều Tiên mà xem!

Xu hướng muốn trở về “đích thực” này hiện nay đã yếu đi và được thay bằng cái  ngược lại, ồn ào hơn: nhiều người (trong đó có cả những đảng viên) đã mạnh dạn lên tiếng, hoặc là góp ý chân thành  hoặc là công kích quyết liệt sự thiếu nhất quán của Đảng khi cứ duy trì khẩu hiệu sọc dưa gọi là “thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, cho rằng Đảng đang ra sức đêm ngày “xây dựng” một thứ chủ nghĩa tư bản nào đó để kiếm đô-la cho phe cánh  và gia đình nhưng vẫn cứ gào thét mấy chữ “chủ nghĩa xã hội” để hù doạ người khác và như vậy là không ổn: hãy bỏ cái đuôi ấy đi cho nó đàng hoàng về phương diện lý luận và cả thể diện nữa. Xét về  logic thì lý lẽ của các vị này không sai, nhưng điều khiến nhiều người không coi là nghiêm chỉnh lắm là trong vài trường hợp, do thái độ vồn vã quá đáng của họ với các thứ lý thuyết lên gân về chủ nghĩa tự do: nghe sự thuyết minh của các vị ấy chúng ta tưởng như họ đang mang về từ đâu đó  một cái cẩm nang thần kỳ mệnh danh tư bản để thay thế cho  cái cẩm nang thần kỳ mang tên cộng sản ngày xưa!

Tôi cho rằng cả hai  hướng suy nghĩ trên đây là không thích hợp và chẳng giải quyết được gì. Cái mô thức gọi là chủ nghĩa xã hội mà Đảng coi như cương lĩnh xây dựng thời trước đổi mới đã chết hẳn rồi, có vùng vằng  thương tiếc thì chỉ tốn nước mắt vô ích. Ngược lại, nếu có những ai cứ nhất định muốn cột thực tế hiện nay vào cái mô thức cũ ấy để chửi cộng sản (và chửi luôn cả ông Marx nữa) thì chẳng khác gì tung cú đấm vào một bóng ma.  Còn cái chế độ tư bản kiểu Mỹ, kiểu Đức, Nhật hoặc Na-uy mà  nhiều người trong chúng ta thường nhắc đến với nỗi thèm muốn quay quắt, đó cũng chỉ là những viễn tưởng cho tương lai, còn bây giờ thì tất cả đều là của người khác, dù mình có trú ngụ ở những nơi ấy thì cũng là xứ sở của người khác, không thể dựa hơi người khác để lên mặt kênh kiệu làm oai với người nhà. Cũng đừng quên rằng đất nước thời “đổi mới”, so với người  ta, tuy còn lạc hậu nhưng cũng đã đi vào hội nhập, và bản thân mô thức “đổi mới”  cũng chỉ là kết quả của một thời kỳ quá độ; xuất  hiện từ những tiền đề nào đó, nó cũng đang tạo ra những điều kiện mới để chuyển động.

Từ những gì đã trình bày, xét từ nội tại, tôi cho rằng vấn đề quan trọng nhất, đáng đặt ra nhất hiện nay là thực hiện một tổng kết về cuộc đổi mới trên 20 năm qua với tư cách là một mô thức phát triển quá độ, trong đó quan trọng nhất là phải nhận ra cho được cái điểm nút sinh tử của nó là  sự đối kháng huỷ diệt của tăng trương kinh tế  đối với phát triển văn hoá. Nhìn vấn đề từ yêu cầu hài hoà, toàn cục, bền vững và “vì con người”, như người ta thường nói, thì cái mô thức mệnh danh “đổi mới” nói trên rõ ràng đã không còn phù hợp nữa: trong khi tạo ra một số của cải  vật chất để đẩy lùi tình trạng nghèo khổ khan hiếm do thứ chủ nghĩa xã hội giáo điều, không tưởng cũ gây ra, trong khi buộc phải đổi thay theo thời thế để cứu nguy một định chế chính trị đang rơi vào khủng hoảng, bên cạnh một số mặt thành công không thể phủ nhận, mô thức đó cũng tạo ra quá nhiều hỗn loạn và mất mát trong lĩnh vực tinh thần, phá vỡ lòng tin của con người về những giá trị nhân văn phổ biến, về  niềm tự trọng dân tộc chính đáng, xâm hại đến cả lợi ích tối thượng của quốc gia.

Các biện pháp mà Nhà nước sử dụng bấy lâu để đối phó, gọi là tuyên truyền, giáo dục, răn đe, trừng trị… đã tỏ ra vô hiệu, một phần vì  không triệt để nhưng do bất lực là chính; các biểu hiện băng hoại về lối sống, các tệ đoan xã hội, các hình thức tội ác… mà nguyên nhân chủ yếu là cuộc thác loạn vì chủ nghĩa vật chất như đã được nhấn mạnh nhiều lần, ngày một tăng “đô”, ngày càng liều lĩnh, ngang nhiên, thách thức. Không chỉ tạo ra cái bầu khí bất an  gây kinh hãi thường trực cho  người lương thiện, ảnh hưởng xấu đến mọi hoạt động giáo dục, văn hoá, kinh tế, môi trường mà trong tình hình mới hiện nay, thứ triết lý tham lam, chạy theo lợi ích nhất thời và vô trách nhiệm, không màng đến hậu quả lâu dài, cũng đang trở thành một chất xúc tác tâm lý lót đường cho những toan tính xâm nhập của chủ nghĩa bành trướng Đại Hán phương Bắc, như đang diễn ra gần đây, ai cũng nhận thấy.

Phát khởi một hình thức vận động giống như một  cuộc cách mạng tinh thần vào lúc này, có thể sẽ bị xem là quá nhạy cảm. Nhưng dù vậy trước tình hình băng hoại đáng báo động về văn hoá như hiện nay, nếu  không dấy lên được một phản ứng thức tỉnh quyết liệt của cộng đồng để cảnh giác và tìm phương cách đối phó, thì nguy cơ rơi vào một hình thức lệ thuộc kiểu thực dân mới nào đó về văn hoá, hoặc một cái gì tương tự tinh vi hơn, không thể loại trừ là  không xảy ra. Điều đó khiến chúng ta không khỏi suy nghĩ thêm về tình cảnh của đất nước vào những năm tháng này: phải chăng vấn đề mất nước mà chúng ta tưởng đã không còn đặt ra nữa sau ngày thống nhất, nay lại lấp ló   hiện ra, lần này không còn đến từ phương Tây nữa mà giống như cả ngàn năm trước, lại từ phương Bắc. Có thật thế không? Dù sao thì trong bất cứ hoàn cảnh nào, trước bất cứ nguy cơ nào, mọi người đều có thể chia sẻ một cách thật bức xúc sự cần thiết phải vun đắp lại một trạng thái  tinh thần lành mạnh và cường tráng cho các tầng lớp nhân dân, qua đó tích tụ thành một tiềm năng văn hoá tích cực, để khi cần thiết sẽ hiện thể thành những ứng phó thích hợp với những thử thách mới trong tương lai. Đối với phần việc này, những người lãnh đạo đất nước phải là những người nhận lãnh trách nhiệm trước tiên: cùng với bao nhiêu phần việc khác, công cuộc phát triển kinh tế mà họ đang điều hành phải góp phần tạo ra những điều kiện thuân lợi để  củng cố thêm tinh thần đó chứ không thể làm ngược lại.

Từ ý hướng đó mà nhìn lại thì rõ ràng mô thức phát triển mệnh danh “đổi mới” cho đến nay đã không làm tròn được chức năng nói trên, do vậy cái chính sách nửa vời đó đã đến lúc cần phải chấm dứt – và mọi người phải có nhiệm vụ tạo áp lực cho nó sớm chấm dứt – để chuyển sang một mô thức phát triển có chất lượng tích cực hơn, phù hợp hơn với  hoàn cảnh mới của xã hội và lịch sử. Nội dung của mô thức này ra sao, sẽ được hình thành như thế nào, làm sao để thực hiện, là những vấn đề lớn lao, có lẽ không phải là chỗ để bàn luận ở đây, bản thân tôi cũng không dám lạm bàn. Tuy vậy do đã xuất phát từ  một tiền đề nhấn mạnh tính mô thức của một đường lối phát triển tổng thể, tôi trộm nghĩ nếu mình được phép đưa ra mấy nhận xét như sau thì cũng không có gì không thuận chiều về mặt logic: trong nỗ lực đi tìm mô thức mới thay thế, vực dậy đời sống tinh thần cho xã hội, nếu không thanh toán cho  được cơ sở lý luận cho phép người ta dựa vào các phạm trù ý thức hệ lỗi thời để thiết lập chính sách quốc gia, coi đó đã  là  những quyết định tối hậu, từ trên áp xuống, dựa vào  những lợi ích nhất thời, cục bộ coi là giá trị để theo đuổi,  cứ thế mà thực hiện, bất chấp hậu quả, bất chấp lòng dân thì cái giá phải trả, trong tình hình mới, không phải  chỉ diễn ra như cũ, cũng không chỉ trên phương diện văn hoá mà có thể dẫn tới những tác hại quan trọng, không lường trước được, về mọi mặt đối với sự an nguy của đất nước.

***

Với những phần nghiêng lệch về tiêu cực như đã phân tích, chủ trương “đổi mới” với tư cách là  một mô thức phát triển, rõ ràng đã không còn lý do để tiếp tục nữa. Một cách có ý thức và chủ động, nó phải được chuyển sang một mô thức mới dựa trên những nguyên tắc mới về lý luận và văn hoá, dân chủ hơn, hiện đại hơn. Như  giáo sư Trần Văn Thọ khi phân tích về viễn cảnh phát triển của thế giới và đất nước, đã tìm thấy đủ lý do để đưa tiễn nó về quá khứ. Vì: “đã qua một thời đổi mới rồi!” (Diễn Đàn, 14.01.2009). Tôi cũng nghĩ như vậy và cho rằng không có gì phải bịn rịn, do đó thiết tưởng  cũng không cần phải viết cho nó một lời ai điếu nào cả!

 

21.11.-2010

L.P

Viết về Cù Huy Hà Vũ

        *Khi đọc bài của tôi rất mong quý vị độc giả hiểu cho: Phê phán Cù huy Hà Vũ không có nghĩa là tôi bao che cho bọn tham nhũng và ủng hộ  những yếu kém của xã hội ta hiện nay. Tôi rất khâm phục nhiều quý vị phản biện có trách nhiệm và trình độ kể cả lòng dũng cảm nữa, thúc đẩy sự phát triển của xã hội, đó hoàn toàn khác với sự kích động xuất phát từ những tham vọng và ảo tưởng gây hỗn loạn và nguy hiểm kiểu như Cù Huy Hà Vũ


KIỆN NGƯỜI MÌNH BỊ TỘI

(Về vụ Cù Huy Hà Vũ)

                 Viết xong cái bài này, tôi gởi cho VietNam Net, Vannghequandoi, congannhandan, hoinhavanvietnam, cuối cùng, có lẽ tại là nhà văn nên chỉ có trang của HNVVN trích đăng một phần mà thôi, xin quý vị ghé qua: http://hoinhavanvietnam.vn/Details/ly-luan-phe-binh/ve-vu-cu-huy-ha-vu/3/0/2681.star 

           Theo lẽ thường  người ta làm gì cũng vì lợi ích của mình, nên có người thấy tôi tích cực phê phán mấy ông “dân chủ” đã cho là tôi viết để bảo vệ danh lợi gắn liền với chế độ. Nhưng thực tế, vốn là cán bộ nghiên cứu KH, không chịu nổi cuộc sống công chức, tôi đã “tự về hưu” từ khi mới có 39 tuổi! Tôi viết cũng vì lợi ích, nhưng là lợi ích chung của mọi người, lợi ích của đất nước, trong đó có cuộc sống của gia đình tôi. Như qua bài Chân dung những “nhà dân chủ” thì quý vị thử nghĩ xem nếu mấy ông “dân chủ” như vậy lãnh đạo nước ta thì xã hội VN sẽ như thế nào và đi về đâu? Tôi đã từng viết giữa chậm tiến và hỗn loạn tôi chọn chậm tiến; giữa cải cách và cách mạng tôi chọn cải cách; cải cách cũng sẽ đi đến cái mới tốt đẹp nhưng êm thấm; còn cách mạng là gắn với đổ máu và tàn phá, nhất là với một xã hội dân trí thấp (như I rắc bây giờ chẳng hạn).

           Tôi cũng không thể không viết được khi thấy những chuyện ngang tai trái mắt, như trường hợp những “Nhà tư tưởng” kiểu ông Nguyễn Huệ Chi. Với những công trình mang vẻ cao thâm, thực chất chỉ là sự làm dáng tri thức rất buồn cười, nhưng lại ảo tưởng mình là tầng lớp tinh hoa, có sứ mệnh khai hóa dân trí. Có điều giải một bài toán con con của phổ thông không xong, sao họ có thể hiểu được chính xác Thuyết Tương đối Einstein? Và làm sao chỉ lối đưa đường cho xã hội được khi dựa trên những hiểu biết lầm lẫn đó?! NHC từng viết:
“Tôi có ngờ đâu … mình đã bị cuốn vào một vấn đề rồi đây sẽ trở thành trung tâm của mọi suy nghĩ, nó có ý nghĩa rọi sáng cho cả một thời đại mới: thời đại “giải lý tính” (dérationnel) của nhận thức khoa học với học thuyết tương đối của Einstein”.
Lý tính nếu dịch chính xác phải là  physical properties, nghĩa cụ thế là tính chất vật lý, nếu suy rộng ra là quy luật vật lý. Einstein đã phát minh ra những thuộc tính mới của tự nhiên (Không gian và thời gian biến đổi theo chuyển động v.v…) nhưng lại dựa trên những quy luật vốn có của vật lý. Nên khi ca ngợi “học thuyết tương đối của Einstein rọi sáng cho cả một thời đại mới: thời đại “giải lý tính””, NHC đã phản chính Einstein! Bởi dérationnel phải hiểu chính xác là giải tỷ lệ hoặc giải tuyến tính, mà điều này thuộc về Cơ học lượng tử chứ không phải thuyết Tương đối. Bởi Cơ học lượng tử là cơ học của phi logique, của bất định, các đại lượng vật lý không phụ thuộc tuyến tính lẫn nhau. Chính Einstein đã phản bác điều này với câu nói nổi tiếng: “Chúa không chơi trò xúc xắc”.  
         Thuyết Tương đối có thời cả thế giới có mấy người hiểu, nên chuyện một ông Hán Nôm hiểu sai cũng là điều bình thường, thế nhưng cái điều khác thường ở đây là, ông này lại muốn dựa vào Thuyết Tương đối để chê chế độ, chắc muốn sự phủ nhận của mình có trọng lượng hơn chăng? Bởi đã sai theo Einstein thì sao mà cãi được! Nên thật buồn cười từ những hiểu biết “râu ông nọ cắm cằm bà kia” như trên, ông lại rút ra: Ý nghĩa của cuộc đấu tranh phát huy tương đối luận”:
“Chúng ta đã từng rút được không ít bài học thấm thía về sự cả tin vào ý chí của một thời vốn được mệnh danh là “thời đại cách mạng lay trời chuyển đất”, cả tin vào lẽ phải của lý trí, khi ta mơ ước chân thành mà cũng có phần nông nổi về lý tưởng tối hậu của cuộc đấu tranh giai cấp giữa giàu và nghèo”. Xin xem: *VỀ MỘT SỰ SO SÁNH KHIÊN CƯỠNG GIỮA EINSTEIN VÀ LÃO T
Vì thế thật không lạ khi Lê Công Định bị bắt, theo trang BBC: “Giáo sư Nguyễn Huệ Chi… nói ông rất ngạc nhiên và buồn trước tin luật sư Định bị bắt”; “Tôi thấy những bài viết của ông Lê Công Định là những bài đặc sắc”.
            Trong khi khen một ông muốn lật đổ chế độ là “đặc sắc” thì chính ông cũng được  Cù Huy Hà Vũ, một ông chống chế độ khác vừa bị bắt,  tôn vinh như sau:
   “Quyết sống!”, đó là câu trả lời của Giáo sư Nguyễn Huệ Chi gửi cá nhân tôi … tiếp nối lời thề “Quyết Tử cho Tổ quốc quyết Sinh” của những bậc Anh hùng nước Việt… Hậu sinh Cù Huy Hà Vũ này chỉ có thể nghiêng mình và noi theo trước khí phách của các Ông – những Chu Văn An của “Thất trảm sớ” thời nay – … đã và đang làm nên Lịch sử!”

      Đúng là ngưu tầm ngưu mã tầm mã! Xin quý vị xem cụ thể bài: *Chuyện Nguyễn Huệ Chi và bài “Các Mác-một tình yêu bao la”; *Phải chăng GS Nguyễn Huệ Chi đã tự huỷ hoại uy tín bản thân?

Tôi vốn thích viết về những vấn đề liên quan đến học thuật, dù ít người đọc, nhưng lại thuộc về vĩnh cửu, có thể tích lũy in thành sách được; còn những vụ om sòm về chính trị, kinh tế, xã hội dù “hot”, được mọi người quan tâm, vì thiết thực và ai cũng có thể hiểu được, nhưng nản, vì giữa thời buổi trắng đen lẫn lộn này: nhiều kẻ nhân danh “vì dân vì nước” thì ăn cắp, những kẻ to mồm “đấu tranh cho dân chủ tiến bộ” thì lưu manh; những vị mũ cao áo dài khụng khiệng muốn dạy dỗ thiên hạ thì dốt nát,  rỗng tuếch…  Mất công viết không được gì có khi còn bị chửi bới, nhất là trên cái “chợ Trời” internet bát nháo thời nay; và trước thực trạng xã hội còn trì trệ, sự điều hành của chính phủ yếu kém, gây ra những hậu quả và những nguy cơ làm mọi người lo lắng, quốc nạn tham nhũng không giảm;… mọi yếu kém, sai phạm to nhỏ đều được sử dụng như những chứng cớ cho những bài viết chống chế độ và đã trở thành cái “mốt”, bất chấp đúng sai và hiệu quả dẫn tới đâu; khi công bố đều được cộng đồng chống đối cổ vũ, tán thưởng ghê ghớm; còn viết sai ý họ rất dễ bị cho là bảo thủ, bao che cho bọn tham nhũng… Nên vụ Cù Huy Hà Vũ tính cho qua, vậy mà khi tìm hiểu lại thấy không thể nào làm ngơ được.
Lần đầu chú ý đến Vũ là do vụ cha con (Vũ với Nhà thơ Huy Cận) kiện cáo nhau vì chỗ ở của Xuân Diệu. Tò mò lên mạng tìm hiểu chuyện này, vô trang  http://www.tathy.com/thanglong/prin tthread.php?t=23269&p p=40  đọc thấy thật buồn cười, đại loại:
          “Nghe tin (hơi thì đúng hơn – ĐL) nồi trõ thì ông Cận muốn lấy cái nhà đó cho vợ nên ông Hà Vũ mới cay. Vấn đề quan trọng nhất là ông Hà Vũ có phải con nuôi ông Xuân Diệu không vì hồi trước làm quái gì có giấy tờ con nuôi, chỉ vào nhau nhận là con nuôi thôi”; “Cái này không phải không có cơ sở! Hà Vũ là con của bà vợ đầu, Xuân Như em gái Xuân Diệu. Còn sau đó ông Cận lấy bà khác nữa”; “Về lý thì ông ta đúng, nhưng về tình thì… ông ta bị giới Văn nghệ sỹ ghét, các chị em xinh tươi yêu Thơ ghét”; v.v…
Gần đây chú ý đến Vũ nhiều hơn qua vụ tự ứng cử chức Bộ trưởng Bộ Văn hóa, rồi vụ kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Thoáng thấy có vẻ có bản lĩnh, nhưng rồi các trang chống đối ở hải ngoại tâng bốc Vũ như từng ca ngợi Trần Mạnh Hảo, lại thấy thật e ngại, có thể Vũ đã bị lây nhiễm vi rút “vĩ cuồng” ở cái lão Hảo rồi sao?! Rồi khi Vũ bị bắt, tìm đọc cụ thể một số bài viết của Vũ thì quả thật, đúng như đã dự đoán.
Viết về Vũ không thể không nhớ đến Huy Cận. Thật tiếc cho ông! Ngày còn sống từng mang tiếng tranh giành với con về nhà cửa, nay đã mất, ông con lại bị bắt vì tội chống lại chính con đường mà ông đã lựa chọn.  Nỗi đau của Huy Cận hôm nay so với nỗi đau của Nhà văn Lê Lựu khi con cái vì tiền mà sẵn sàng từ cha,ai đau hơn đây?
Trong một bài viết về ngôn ngữ thơ, tôi đã từng trích thơ Huy Cận: “Gió lạnh chiều đông xui nhớ thuở/ Bẫy chim chèo bẻo nấp bên bờ/ Hôm nay ta nấp thơ giăng lưới/ Bẫy tháng năm về bắt tuổi thơ”. Dùng thơ giăng lưới bắt những kỷ niệm ấu thơ thì đúng là thơ mộng thật. Tuy vậy, trong bài thơ mà người chọn cho là mẫu mực của Huy Cận đưa vào sách giáo khoa, tôi hoàn toàn không thích câu “Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe”. Trăng vàng chóe đúng là lung linh thật, nhưng nhân cách hóa con cá thành cô gái vẫn còn cái đuôi thì thật là buồn cười!
Tôi cũng có lần duy nhất được gặp Huy Cận, đúng vào cái giây phút nhớ đời, đó chính là lúc Chế Lan Viên vừa được đưa từ phòng mổ ở BV Chợ Rẫy ra, còn bất tỉnh, mặt phù nề và thở rất khó nhọc, vì vừa trải qua ca phẫu thuật phổi. Huy Cận đã ở đó, tôi thấy ông đưa cho Nhà văn Vũ Thị Thường một gói tiền giúp CLV, của cơ quan hay của riêng tôi không thể biết được. Vậy mà đã hơn 20 năm trôi qua rồi, cả CLV và Huy Cận đều không còn nữa!
Đọc những bài của Vũ trước hết tôi thấy thật lạ lùng, Vũ vừa là TS luật vừa là ThS văn chương, tưởng viết phải rất đúng luật và chặt chẽ, nào ngờ hoàn toàn ngược lại. Trong nhiều bài viết, Vũ đã sử dụng ngôn ngữ chợ búa, phạm luật, và trước những vấn đề đại sự, rất ấu trĩ.

         Không ai kiện được người thực hiện chức trách theo luật định, như người Mỹ nào cũng cho là sai, nhưng thời đó không ai có thể kiện và bỏ tù những ông tổng thống gây chiến ở VN làm chết gần 60.000 người Mỹ và tiêu cả núi tiền của được. Như vậy những người thực hiện đúng chức trách dù có sai lầm dẫn đến hậu quả nghiêm trọng cũng chỉ có thể để lịch sử và lương tâm chính họ kết án họ mà thôi! Chính vậy cần phải chọn người tài đức để trao quyền lực là như vậy. Đặc biệt, chỉ có tòa mới được tuyên án sau khi xét xử, còn một công dân chỉ có thể nhận định, phê phán từ những chứng cớ hiển nhiên, chắc chắn, rồi đề nghị các cơ quan pháp luật điều tra xét xử, chứ không thể tự mình kết án người khác, làm vậy là phạm tội. Vậy mà, khi trả lời VOA, trong “TS Cù Huy Hà Vũ, từ khởi kiện Thủ tướng đến yêu cầu xóa bỏ điều 4 Hiến pháp”, với những chuyện tày đình, Vũ đã khơi khơi kết tội và phỉ báng những người đứng đầu Nhà nước:

- Chủ tịch Nguyễn Minh Triết thuộc diện: “bạo chúa”; “những kẻ cầm quyền phạm tội ác chống lại chính dân tộc, chống lại chính nhân dân mình”;
TT Nguyễn Tấn Dũng: “xâm phạm Hiến pháp và pháp luật gây hiểm hoạ mất nước”;
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng: “lú lẫn hoặc thực hiện “chính sách đà điểu”… mà nghiêm trọng hơn, đã xuyên tạc trắng trợn lịch sử dân tộc Việt Nam đương đại, xuyên tạc trắng trợn lịch sử của chính Đảng cộng sản Việt Nam”.
Và Vũ còn khẳng định: “việc ban lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay khăng khăng chống đa đảng dứt khoát là hành vi phản bội dân tộc”;  “tôi nhắc lại một lần nữa, quay lại chế độ Đa đảng là con đường sống duy nhất đối với Đảng cộng sản Việt Nam!”
Gần đây, dư luận rất chú ý Kiến nghị của GSTS Nguyễn Minh Thuyết về vụ Vinashin, viết ngày 1 tháng 11 năm 2010:
“Tôi trân trọng đề nghị Uỷ ban Thường vụ Quốc hội tổ chức để Quốc hội biểu quyết thành lập Uỷ ban lâm thời điều tra trách nhiệm của các thành viên Chính phủ trong vụ việc này, trên cơ sở đó, vào thời gian cuối kỳ họp, bỏ phiếu tín nhiệm Thủ tướng và một số thành viên Chính phủ có liên quan.
          Để tạo điều kiện cho công tác điều tra của Uỷ ban lâm thời, tôi đề nghị Quốc hội tạm đình chỉ chức vụ của các vị cần được điều tra”.(http://nguyenxuandien.blogspot.com/2010/11/gs-nguyen-minh-thuyet-dang-thu-khan-cap.html)
Còn gì quyết liệt hơn, cụ thể hơn thế, nhưng vẫn chỉ là kiến nghị và qua đó ai cũng thấy cái trách nhiệm của ông. Nó hoàn toàn khác những lời hung hăng quy kết của Cù Huy Hà Vũ nêu trên. Nếu đọc những ý được trích dưới đây của những nhà chính trị nổi tiếng thế giới, đã đưa đất nước họ thành quốc gia phát triển, sẽ thấy chưa ai chủ quan và tự tin một cách mù quáng như Vũ.
Trong bài *VỀ NHỮNG CON ĐƯỜNG “ĐỔI MỚI” tranh luận với GSTS toán học Phan đình Diệu về Dân chủ và Đa nguyên, để cho khách quan hơn, tôi đã trích cả ý của ông Nguyễn Cao Kỳ, một cựu thù của chế độ, qua bài của GS Trần Chung Ngọc:
       “Cựu Tướng Không Quân nói rằng một chính quyền độc đảng mang đến “sự ổn định và kỷ luật” thì cần thiết cho Việt Nam để ra khỏi sự nghèo khổ”; “Tôi cho rằng thật là sai lầm khi một số người, đặc biệt là một số người Việt ở Mỹ, ngày nay đòi hỏi Việt Nam phải chấp nhận và thực hiện một nền dân chủ giống như nền dân chủ họ đang hưởng ở Mỹ. Quan niệm của tôi là, đó là một sự sai lầm. Nền dân chủ đó không thích hợp với Việt Nam trong tình thế hiện nay.” [The former air force general said a strong one-party government that provided "stability and discipline" was essential for Vietnam to escape the clutches of poverty… "I think it is very wrong that some, especially some Vietnamese overseas in America , today are asking, demanding that Vietnam has to adopt some sort of democracy like they have in America . My personal opinion is that it is wrong. It does not fit Vietnam in the present situation," said Ky. ]
         Tiến trình dân chủ và tự do trong một nước tùy thuộc rất nhiều yếu tố xã hội, không thể nhập cảng từ ngoài vào. Yếu tố chính là trình độ dân trí. … Trong cuốn “Bàn Về Tự Do” (On Liberty, 1859), John Stuart Mill có viết:       
         “Giáo dục phổ quát phải đi trước quyền công dân, đặc biệt là quyền bỏ phiếu phổ quát” [Universal teaching must precede universal enfranchise ement], và “Tự do chỉ có thể trở thành hiện thực trong một cộng đồng văn minh”  …       
        Khi được Jim Rohwer, Kinh tế Gia, hỏi: “Dân Chủ giúp, hay làm chướng ngại, hay không liên quan gì đến mức độ tiến nhanh như thế nào của các quốc gia Á Châu? (Is being a democracy a help, a hindrance, or irrelevant to how fast Asian countries can go?) Thủ Tướng Lý Quang Diệu đã trả lời:        
        – Nếu ông ở trong một xã hội nông nghiệp, tôi cho rằng dân chủ không làm  cho xã hội tiến nhanh. Hãy coi Nam Hàn, Nhật, và Đài Loan. Trong những giai đoạn đầu họ cần đến, và đã có kỷ luật, trật tự, và sự cố gắng. [Chúng ta nên nhớ, Nam Hàn và Đài Loan, những quốc gia không có chiến tranh, không có hận thù nội bộ, cũng phải ở dưới chế độ độc tài quân phiệt trong 30 năm, từ 1950 đến 1980, rồi mới tiến tới dân chủ, nhưng cũng không phải là dân chủ Mỹ.] Họ phải tạo ra sự thặng dư về nông sản để bắt đầu làm cho mặt kỹ nghệ tiến. Không có chế độ quân phiệt, hay độc tài, hay chính phủ độc đoán ở Nam Hàn và Đài Loan, tôi không nghĩ rằng các quốc gia này có thể chuyển đổi mau như vậy.        
         -Trái lại, hãy coi Phi Luật Tân. Họ có dân chủ để tiến từ năm 1945. Họ chưa bao giờ tiến được bước nào; xã hội quá hỗn loạn. Nó trở thành một trò chơi trong phòng khách – ai lên cầm quyền, ai chiếm hữu được cái gì”… Nhưng một khi tiến tới một trình độ tiến bộ kỹ nghệ nào đó, ông đã có một lực lượng lao động có học, …Rồi ông có thể bắt đầu một xã hội công dân, với những người họp thành từng nhóm: chuyên gia, kỹ sư v..v.. … vì là những người có học, có tầm nhìn thế giới rộng rãi hơn, sẽ kéo những người cùng trình độ đến với nhau. Chỉ như vậy ông mới có thể bắt đầu cái mà tôi gọi là hạ tầng cơ sở dân chủ. [Chỉ mới là bắt đầu hạ tầng cơ sở dân chủ thôi]          
    Trong cuốn Asia Rising.., Jim Rohwer cũng đã đưa ra nhận xét sau:          
        “Sau khi sống vài năm ở Á Châu tôi thấy rằng cái hố ngăn cách lớn nhất giữa giới trí thức Tây Phương và Á Châu là về vấn đề dân chủ. Ở Tây phương, dân chủ được coi như là chế độ chính quyền duy nhất mà một quốc gia văn minh phải theo… Trái lại, nhiều tư tưởng gia sống ở Á Châu cũng xét đến ý tưởng dân chủ nhưng lý luận mạnh mẽ là, một loại chủ thuyết độc đoán nào đó thì tốt hơn là dân chủ tự do và vô trách nhiệm. Điều này thật là dễ hiểu. Ở Á Châu ngày nay, chính phủ độc đoán thường không đưa đến sự gian khổ và chiến tranh mà là hòa bình, thịnh vượng, và bình đẳng.”          
       [Jim Rohwer, Ibid., pp. 322-323: I realized after living in Asia for a few years that probably the world’s biggest intellectual gulf among highly educated people lay between Westerners and Asians on the subject of democracy. In the West democracy is generally thought to be the only form of government by which a civilized society should consider running itself....By contrast, many thoughtful people living in Asia are open to the idea, and sometimes argue it vigorously, that a certain kind of authoritarianism is better than a freewheeling democracy. This is understandable. In modern Asia, authoritarian government has often brought not hardship and war but instead peace, prosperity, and equality.]
        Còn tôi (ĐL) về vấn đề đa Đảng thì thấy, nước mình không nhiều người tài đâu, qua những bài viết của tôi quý vị sẽ thấy, ngay tầng lớp “tinh hoa” cũng còn lầm lẫn đủ thứ, còn chưa làm chủ được, thì với phạm vi xã hội dân chủ sẽ như thế nào? Kiếm người tài cho một Đảng còn khó thì lấy đâu ra cho tùm lum đảng?”
Trong một vụ khác, Vũ đã kết án ông Lê Thanh Hải“Những hành vi tội ác”, “cướp đất”, rồi đề nghị: “Đơn này tôi tố cáo và yêu cầu Quý vị truy cứu trách nhiệm hình sự và đưa ra vành móng ngựa tên Lê Thanh Hải, ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy, nguyên Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và đồng bọn do đã đập nhà, cướp đất ở của bà Dương Thị Kính, thân nhân của Ba Liệt sĩ, tại 255/6/27 Ngô Tất Tố, phường 22 quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh”.
Tất nhiên không ai không bất bình trước những tội ác, nhưng liệu Vũ đã bỏ thời gian và có nghiệp vụ điều tra tìm đủ chứng cớ và có quyền kết án như vậy không? Nếu đúng như trên ông Hải quá là ác quá là sai rồi, sao Vũ không triệt để kiện đến cùng để mang lại công bằng cho gia đình bà Dương Thị Kính, hay chỉ viết một lá đơn giật gân để lấy tiếng; hay gia đình bà Dương Thị Kính không có tiền thuê Vũ như ông Nguyễn Quảng Tuân mà Vũ khoe đã từng “chém” cả 100 triệu trong một vụ án về bản quyền, mà về văn hóa là chính chứ tiền thì rất nhỏ.
Quyết liệt hơn nữa, khi đòi ĐCSVN phải từ bỏ quyền lãnh đạo và phát động một cuộc chiến mới chống Trung Quốc, Vũ đã:
     1- Biến “ta thành địch” khi cho: “ban lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam” có “những hành vi “phản Nước hại Dân””;             
     2- Biến “địch thành ta”  bằng “KIẾN NGHỊ” “TRẢ TỰ DO CHO TẤT CẢ TÙ NHÂN CỰU QUÂN NHÂN VÀ VIÊN CHỨC CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HOÀ”; và phê phán việc “kỷ niệm “Ngày giải phóng Miền Nam” là “khoét sâu vết thương của Dân tộc”.
     3- Xác định Trung Quốc là kẻ thù “xâm lược”;
     4- Liên minh với Mỹ để chống Trung Quốc.
Có gì đó thật ngông cuồng và ấu trĩ trong những điều trên. Tôi không phải Đảng viên nên không biết Ban lãnh đạo ĐCSVN nghĩ gì, nếu họ ngoan ngoãn nghe lời Vũ thì Vũ sẽ thắng. Nhưng xưa nay có thế lực nào lại tự nguyện từ bỏ quyền lực? Theo triết học Mác, trong đấu tranh đối kháng, chỉ có thể dùng bạo lực mới giành được chính quyền. Vậy Vũ buộc phải tiến hành một cuộc chiến tranh chống ĐCSVN thôi, và theo lẽ thường, thắng sẽ được làm vua còn thua sẽ bị làm giặc!           Còn từ “ta” “địch” ở trên tôi dùng như một trò chơi chữ cho vui, chứ trong xã hội VN hiện đại không còn hai khái niệm ấy, kể cả kẻ thù xâm lược ngày xưa cũng đã trở thành đối tác làm ăn quan trọng nhất rồi. Mỹ đã trở thành Thiên đường cho học sinh Việt mơ được du học. Phải thừa nhận, qua mạng, ta thấy còn nhiều người thuộc chế độ cũ vẫn còn “cay” cái chuyện Việt Nam Cộng hòa “mất nước”. Tôi thấy cũng là lẽ thường tình bởi những người bình thường ai cũng có cái sĩ diện, nhất là lại mang nặng cái cốt cách tiểu nông phong kiến nữa. Những người này giống Vũ ở chỗ còn coi ĐCSVN là địch, chỉ khác ở chỗ, họ thì bị mất, còn Vũ lại chính là người được hưởng lộc của Đảng. Chỉ có những người có tư duy khách quan đặc biệt như GS Vật lý Trần Chung Ngọc, hiện ở Mỹ, mới có chung niềm tự hào về chuyện thắng ngoại xâm cùng với những người từng là đối phương của mình bên kia chiến tuyến mà thôi. Ngay Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ của Việt Nam Cộng hòa cũng đã trở thành khách mời của Chủ tịch Nguyễn Minh Triết; đêm nhạc của Phạm Duy được tổ chức tại TP HCM còn trang trọng hơn cả những nhạc sĩ cách mạng hàng đầu, khiến có người phải phát ghen viết trên báo chí; còn sát sườn tôi, người chú ruột vợ từng là cha tuyên úy cũng đã được trả tự do lớp sau cùng trên 20 năm rồi, ông đã trở thành cha sở một nhà thờ lớn, khi chết có lãnh đạo Quận Tân Bình dự lễ tang, và khi đưa quan tài về Long An, có công an gác đường cho xe chạy thông tuyến v.v… Tại sao Vũ lại có cái kiến nghị hòa giải kỳ quái trên? Và dù có xóa bỏ thù hận, loài người vẫn không thể đồng nhất thiện ác, và lịch sử mỗi nước cũng không thể xóa đi những dấu son. VN không thể bỏ ngày lễ 30-4 để hòa hợp dân tộc cũng như nước Mỹ không thể bỏ ngày Độc lập 4-7 để hòa hợp với người Anh vậy. Dù ở phe nào cũng phải thấy, dù Pháp, Mỹ giờ là bè bạn, nước ta từng bị mất do Pháp chiếm, vua thì bị bắt đi đầy, nhiều cuộc khởi nghĩa chống Pháp nối tiếp nhau diễn ra, cuối cùng 1945, ĐCS lãnh đạo dân ta giành được độc lập. Tiếc rằng năm 1946, Mỹ đã không bắt tay Hồ Chí Minh, sau đó lại còn viện trợ cho Pháp ở Điện Biên Phủ, rồi dựng chế độ Ngô Đình Diệm, tiếp tục cuộc chiến, và rồi phải đến tận trận thử lửa cuối cùng trên bầu trời Hà Nội cuối năm 1972, sau 30 năm, Mỹ mới chịu thất bại hoàn toàn, rút khỏi VN. Vậy thật là bậy bạ khi Vũ cho Mỹ ở VN tương tự như VN tấn công và tiêu diệt bọn diệt chủng Pon Pot ở CPC, sau khi nước ta bị chúng xâm lấn và giết dân ta ở biên giới. Những phát ngôn bất chấp đúng sai đó phải chăng chính là đòn tâm lý Vũ tung ra để lôi kéo những người thuộc chế độ cũ còn thù hận liên kết với mình làm “cách mạng ngược” lật đổ chế độ hiện thời?!
Còn chuyện Trung Quốc thế nào thì gần như mọi người đều biết. Nhưng đọc Hồi ký của Trần Quang Cơ, ta mới hiểu cái khó của công việc ngoại giao của một nước nhỏ và yếu là như thế nào. Cuộc chiến Biên giới với TQ, có lẽ khởi nguồn từ việc nhà lãnh đạo của ta đã chấp và không hóa giải một câu nói của Mao. Theo Hồi ký Trần Quỳnh (http://www. psend.com/): “Vào nhà ga ăn cơm… một nửa có Phạm Văn Đồng, Trương Xuân Kiều và Hoàng Văn Lợi. Một nửa có Nguyễn Duy Trinh, Đặng Tiểu Bình và tôi. Lúc ăn cơm, Trương Xuân Kiều nói: Tôi xin chuyển đến các đồng chí ý kiến của Mao Chủ Tịch: Các đồng chí đánh 20 năm, buộc được quân Mỹ về nước, nhưng Miền Nam vẫn còn chế độ Nguyễn Văn Thiệu, chứng tỏ sức của các đồng chí chỉ làm được đến đấy, cán chổi của các đồng chí ngắn, không thể quét hết địch ra khỏi Miền Nam. Vì vậy từ nay giữa hai miền Nam Bắc phải cùng chung sống”.  

Nhưng rồi ta không nghe Mao, vẫn thống nhất được đất nước, còn nghiêng hẳn về phía LX, cương với TQ, và chiến tranh đã xảy ra. Ta đã phải mất 10 năm dài cực nhục mới bình thường hóa trở lại, bởi làm sao yên khi cái nước to tướng lù lù trên đầu lại là một kẻ thù?! Vì vậy phải làm sao vừa giữ được ý mình mà vẫn không để xảy ra đổ máu mới là thượng sách. Như Bác Hồ từng lèo lái nước ta làm bạn được cả với LX và TQ, xin được viện trợ của cả hai, trong khi họ coi nhau là thù địch!
Thế giới đã phải trả giá quá cao để xóa bỏ chuyện chia phe, phân chia chiến tuyến, mà rủi thay, VN ta lại là bãi chiến trường, đã phải mất mát nhiều nhất. Vậy mà bây giờ Cù Huy Hà Vũ lại phát động một cuộc chiến mới, coi Tàu là kẻ thù và muốn liên minh với Mỹ để đánh Tàu thì đúng là suy nghĩ thật là ngông cuồng, ấu trĩ và nguy hiểm. Một nước I-rắc bé tí, chưa đánh đã thua, còn khiến Mỹ sa lầy và sau cùng ông Bush phải thừa nhận là sai lầm, làm sao Mỹ có thể theo VN đánh TQ, trong khi TQ đang là đối tác làm ăn tối quan trọng của Mỹ!? Còn VN nếu đánh nhau thực sự với TQ thì khó hơn đánh nhau với Mỹ nhiều, bởi TQ vừa giàu mạnh hơn ta, lại ở sát nách, cả trên cạn lẫn dưới biển; hơn nữa cùng dân châu Á; TQ cũng có thể hóa giải được cách đánh của ta. Vậy chiến tranh là điều xấu nhất cần phải tránh. Trong bài ĐỌC MA CHIẾN HỮU CỦA MẠC NGÔN tôi đã viết:
“Bản thân tôi từng là lính chiến bảo vệ Tổ Quốc, anh ruột hy sinh năm 1968, cha là chiến sĩ ĐBP, tôi cũng rất bất bình trước những hành động xâm lấn biên cương của Tổ Quốc và tư tưởng bá quyền. Nhưng chúng ta phải làm sao trong tình hình hiện nay thì đúng là một bài toán quá hóc búa. Một số người ngây thơ cho rằng cần phải dựa hẳn vào những nước lớn này nọ, họ đã quên rằng, các nước lớn luôn coi trọng lợi ích của họ trên hết, các nước nhỏ chỉ là quân bài mà thôi. Khi TQ cần bắt tay chặt hơn với Mỹ để hiện đại hóa đất nước, thì quân bài Ponpot bị ném vào sọt rác; trước đó, khi Mỹ và TQ bắt đầu gặp nhau, thì VNCH cũng bị bỏ rơi, khiến ông TT Nguyễn Văn Thiệu phải thốt lên rằng, người ông căm thù nhất chính là Cộng sản và Mỹ! Trong cái thế giới đang được gọi là văn minh này, chân lý vẫn luôn thuộc về kẻ mạnh, cá lớn luôn uy hiếp cá bé. Vậy muốn bình đẳng, muốn đối thoại sòng phẳng trong những cuộc tranh chấp, người ta buộc phải mạnh. Từ đây tôi mới hiểu rằng, chẳng ai muốn chạy đua vũ trang cả, nhưng vẫn có những nước cơm không đủ ăn, vẫn quyết tâm phóng được tên lửa đạn đạo! Còn nước ta tôi thấy chưa bao giờ nhỏ và yếu như bây giờ. Vì vậy, cần  phải có những chính sách đúng đắn làm cho khoa học công nghệ, nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững. Từ đó ta mới tạo được thế và lực trong ngoại giao. Trong việc giải quyết những tranh chấp cần có sự cân bằng về cương nhu, cần duy trì chính sách ngoại giao đa phương, công khai những bất đồng để dựa vào sức mạnh của dư luận toàn thế giới.
Còn nếu ai đó chỉ lớn tiếng kích động thù hận, chẳng khác gì đẩy dân ta vào một cuộc chiến không cân sức và muốn máu của dân ta tiếp tục đổ mãi mãi?! Như vậy là tội ác!”
Trong một bài khác tôi cũng viết: “Trong thời gian qua, phía TQ quả có gây ra nhiều chuyện nơi Biên giới Hải đảo của ta, từ chuyện xâm hại tính mạng và tài sản của ngư dân, đặc biệt là tham vọng qua tuyên bố về “đường lưỡi bò” liếm hết Biển Đông…, ta cần phải dựa vào luật pháp cũng như dư luận quốc tế, tăng cường ngoại giao đa phương để có đối sách thích hợp, kể cả việc nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội, tăng cường phòng thủ. Nhưng kích động thù hận, phát động chiến tranh là điều không nên. Trái lại, trước những hành động ngang ngược và tàn bạo của lính TQ mà cứ làm thinh để họ được đà lấn tới cũng là điều không nên”.
Còn nhiều điều phi lý và ngô nghê trong lập luận của Cù Huy Hà Vũ, viết hết thì mất công quá, mệt cả tôi lẫn bạn đọc. Thực ra những vấn đề mà Vũ viết ra ai cũng biết, nhưng mọi góp ý có lý có tình sẽ hiệu quả hơn, còn viết một cách giật gân để câu khách kiểu của Vũ thì đi tố người rồi chính mình lại phạm tội. Có điều ngạc nhiên là, Vũ cũng thuộc lứa tôi, kém tôi chỉ 2 tuổi, nghĩa là chưa già để lú lẫn và cũng không còn trẻ để nông nổi, vậy tại sao một người có trình độ TS luật của Pháp đàng hoàng lại hành động như con thiêu thân vậy, có phải vì những lời tâng bốc còn sai chính tả như đoạn trích dưới đây không? Nếu đúng thì thật tội nghiệp, chỉ từ những điều nhí nhố tự hại mình, làm khổ nhục vợ con và dòng họ:

Bắt LS Cù Huy Hà Vũ, một sự trả thù đê tiện »
http://danchimviet.info/

           Âm mưu của cộng sản Việt Nam muốn làm nhục Luật Sư
Cù Huy Hà Vũ qua vụ dàn dựng này chắc chắn không thành công vì Cù Huy Hà Vũ lâu nay đã là một điển hình sáng chói của giới trí thức trong nước. Với gia thế “hoàng tộc cách mạng” của cả hai bên bố và mẹ ông, với tài học rất cao của ông so với giới trí thức trong nước, nếu ông chịu im lìm, nằm hả miệng ăn sung, thì chắc chắn thế nào cũng có nhiều bổng lộc, quyền cao chức trọng đến với ông. Nhưng Luật Sư Cù Huy Hà Vũ đã chứng tỏ không phải con người tầm thường. Ông quyết tâm từ bỏ tất cả “vinh hoa, phú quí” đang chờ đợi ông, để hy sinh tranh đấu cho nước Việt Nam thực sự Độc Lập trước ách Tầu Cộng, thực sự Dân Chủ trước ách độc tài đảng trị, và dân chúng thực sự no ấm trước ách bóc lột của bọn tư bản đỏ đang thao túng đất nước. Mục tiêu tranh đấu của Luật Sư Cù Huy Hà Vũ quá rõ ràng và trong sáng. Bởi thế ông được cảm tình và sự ủng hộ của hầu hết dân chúng trong nước lẫn hải ngoại. Đồng thời ông cũng được nể trọng bởi nhiều cơ quan bảo vệ nhân quyền, và tự do báo chí trên thế giới.
Thương thay một người hào kiệt, tính tình thẳng thắng, tay không tất sắt mà dám đứng lên tranh đấu cho luật pháp được minh bạch, bảo vệ người cô thế, đấu tranh với nhà cầm quyền đang cai trị để cho đất nước có được các quyền tự do ngôn luận, lập hội, quyền tự do báo chí, để tiến tới nền dân chủ thật sự, người dân có được nhân quyền,…”

Ngược lại, Cả Vũ, cả những người thân và những người bênh vực Vũ cũng cần phải đọc những ý ngược lại, có thể không hoàn toàn chính xác về chi tiết nhưng ý chính tôi tin là đúng:

Kẻ phản bội cả giống nòi

http://hoangsa.org/forum/showthread.php?t=15441&p=167018

Là một ngư­ời thích và yêu thơ Xuân Diệu đã lâu, qua tìm hiểu trên mạng Internet tôi đ­ược biết Phòng l­ưu niệm nhà thơ Xuân Diệu đặt tại 24 Điện Biên Phủ, Hà Nội. Một lần tình cờ có việc ra Hà Nội, tôi dự định vào thăm Phòng l­ưu niệm để biết thêm về cuộc đời và sự nghiệp thơ ca của nhà thơ. Tuy nhiên, đến 24 Điện Biên Phủ thấy cửa đóng then cài, hỏi thăm địa chỉ ng­ười hàng xóm để vào, tôi mới thật sự ngỡ ngàng. Phòng l­ưu niệm nhà thơ Xuân Diệu đã bị ng­ười cháu là Cù Huy Hà Vũ chiếm đoạt làm phòng ở. Nguyên do vì họ hàng ở xa, lợi dụng lòng tin của dòng tộc, Vũ đ­ược ủy quyền thay mặt dòng họ để trông coi Phòng l­ưu niệm và duy trì bảo quản các hiện vật. Tuy nhiên, lòng tin của dòng tộc đã đặt không đúng chỗ. Vũ đã mạo nhận là con nuôi để thừa kế hợp pháp ngôi nhà của nhà thơ Xuân Diệu, từng bư­ớc biến Phòng l­ưu niệm trở thành phòng ở sở hữu riêng của gia đình; Vũ đã thay đổi toàn bộ hiện trạng phòng l­ưu niệm, biến khuôn viên lư­u niệm thành nơi chứa hàng buôn bán đồ thủ công mỹ nghệ; không những thế Vũ còn phân tán và làm thất thoát các di vật của nhà thơ Xuân Diệu. Thậm chí những ngày giỗ, tết, Vũ cũng khoá cửa Phòng l­ưu niệm gây khó khăn cho gia đình họ tộc đến thắp hư­ơng t­ưởng nhớ nhà thơ Xuân Diệu, dẫn đến tình trạng bất bình trong họ tộc. Trước đây, khi còn sống, nhà thơ Cù Huy Cận là bố của Vũ cũng bất bình với việc làm trên của con trai gây ảnh hưởng uy tín trong dòng tộc song bố nói mà con không nghe nên cũng đành chịu.
Chia tay ngư­ời hàng xóm trên, tôi cảm thấy buồn và thật sự thất vọng về một con ng­ười mà tôi đựơc biết: ông Cù Huy Hà Vũ là một tiến sỹ luật, là con trai của cố nhà thơ Cù Huy Cận- một ng­ười bạn chí cốt của cố nhà thơ Xuân Diệu, ng­ười đã đề nghị Đảng và Nhà n­ước cho lập Phòng l­ưu niệm nhà thơ Xuân Diệu”.

Tôi không đảng, không công chức, rất dị ứng với quyền lực, chỉ cần yên ổn thì chế độ nào cũng được, nên tôi viết hoàn toàn chỉ vì lẽ phải, và thấy cần phải vạch mặt những kẻ ác, dốt, nhưng lại luôn nhân danh những điều cao cả để mưu cầu đủ thứ tham vọng. Trong khi cái mà xã hội đang cần chính là sự phản biện có trách nhiệm, có trí tuệ, để đưa nước ta nhanh chóng thoát khỏi sự trì trệ, chặn đứng những tệ nạn, vững mạnh trước những nguy cơ và phát triển bền vững.
Để  khách quan, tôi kết bài viết về Cù Huy Hà Vũ này  bằng ý của bạn có nickname là macluv trên (http://www.tathy.com/thanglong/printthr ead.php ? t = 23269& pp=40):
Anh Vũ này có làm tấm bia trên mộ Xuân Diệu đẹp phết, khắc hình Xuân Diệu nhìn nghiêng đẹp trai lồng lộng, chỉ mỗi tội là khắc tên anh Vũ hơi to ở trên ý. Vụ nhà hai bốn Cột Cờ này ngày xưa bố con anh lôi nhau lên báo đấu tố nhau mãi. Đối với gia đình, bố con với nhau mà anh còn tính đường có lợi cho anh thì làm sao mà anh làm chuyện có lợi cho dân được. Chả qua đánh bóng tên tuổi thôi”.
ĐÔNG LA
TPHCM
9-11-10

Mấy suy nghĩ về bức thư của Tiến sĩ Nguyễn Xuân Tụ (Hà Sĩ Phu)

Sau khi đọc bức thư này, có mấy suy nghĩ băn khoăn, tôi chép lại vào đây để trao đổi, luận bàn cùng tác giả và bạn đọc.

Trước hết xin hoàn toàn nhất trí với Tiến sĩ Tụ về tình hình đất nước, tôi không bàn thêm. Tôi có mấy suy nghĩ về 3 kiến nghị của Tiến sĩ  Tụ như sau.

1. Theo tôi, không làm gì phải thay đổi việc khai mạc Đại lễ 1000 năm Thăng Long vào ngày 1/10 và kết thúc vào ngày 10/10 tới. Vì nước ta là một nước có chủ quyền, ta không phụ thuộc vào nước nào. Vị thế của nước ta trên trường quốc tế thì mọi người đã biết, khỏi phải bàn. Việc tổ chức Đại lễ 1000 năm Thăng Long của nước ta vào ngày 1/10 hoàn toàn không “phạm húy”, càng không phải là hoạt động chào mừng Quốc khánh Trung Quốc, hay Quốc khánh Trung Hoa Dân Quốc. Và hoàn toàn không có gì là “lăng nhục” dân tộc. Ngược lại, theo thiển nghĩ của tôi thì chính là một hoạt động nêu cao truyền thống dân tộc. Vì 1000 năm trước, đất nước Việt Nam này đã có Nhà Lý ở bên cạnh Nhà Tống, đã có cuộc giao tranh giữa 2 quốc gia vào những năm 1075 và 1077 và đã có tuyên ngôn “Nam Quốc sơn hà Nam Đế cư”. Ngày nay, Việt Nam vẫn ở cạnh Trung Quốc như ngàn năm xưa. Dân tộc ta, đất nước ta đã trải 1000 năm Bắc thuộc mà “không thuộc Bắc”, gần 100 năm “Pháp thuộc” mà không “thuộc Pháp”; tiếp theo là cuộc kháng chiến chống Mỹ với thắng lợi vĩ đại đã được cả thế giới biết đến. Bây giờ Việt Nam với Mỹ thế nào chắc Tiến sĩ Tụ đã rõ. Ông cha ta và chúng ta biết chống ngoại xâm để giành độc lập dân tộc, đưa đất nước tiến lên, tôi tin chắc rằng con, cháu, chắt chúng ta cũng sẽ biết chống ngoại xâm để bảo vệ độc lập dân tộc khi Tổ Quốc bị ngoại xâm. Khai mạc Đại lễ 1000 năm Thăng Long có trùng với Quốc khánh Trung Quốc thì cũng là nhắc cho ai đó có tư tưởng nước lớn hãy nhớ lại chuyện 1000 năm trước ở đời Nhà Lý – Việt Nam. Tất nhiên chúng ta không thể được thỏa mãn, tự cao tự đại với những thành công mà quên những yếu kém, những hủ bại đang làm suy yếu đất nước như suy nghĩ của Tiến sĩ. Còn việc tổ chức không đúng ngày “khởi thảo hay khởi sự dời đô” thì không quan trọng, vì không phải là ngày “cúng giỗ tổ”. Mà ngày 10 tháng 10 là một ngày lịch sử giải phóng kinh đô 1000 năm của vua Lý Thái Tổ bị đế quốc thực dân xâm chiếm. Về chuyện ngoại giao có khi cương, khi nhu, “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” như Bác Hồ đã dậy, đã làm mới có được thành công. Đọc diễn văn mừng ngày đại lễ nghìn năm của dân tộc tại Thủ đô của Tổ Quốc mình sao lại là lăng nhục từng người dân việt Nam!? Kỷ niệm ngày chiến thắng, nhớ lại nghìn năm lịch sử của dân tộc, mỗi người dân Việt nam tự hào lắm chứ. Ai là người dân Việt Nam mà cho đó là lăng nhục mình thì cũng phải xem lại họ đang đặt mình là ai? Suy nghĩ cho ai? Làm cho ai?

2. Đúng là đất nước ta đang còn nghèo, nhân dân ta cũng đang còn nghèo. Nhưng Đảng ta, Nhà nước ta đã đưa dân tộc ta, đất nước ta tiến “hàng nghìn bậc” trên bước đường đi lên ở từng giai đoạn để ngày nay tổ chức được Đại lễ 1000 năm Thăng Long. Những cái khó, cái khổ của dân, của nước, Đảng ta, Nhà Nước ta đã lo, đang lo, và tiếp tục lo làm cho đất nước ngày ngày đổi thịt thay da. Cứ như ở quê tôi, Nhà nước ta đã lo cho dân, lo cho người nghèo nhiều lắm. Lo từ việc để có bát cơm ăn, áo mặc, chữa bệnh, học hành cho hiện tại cũng như tương lai lâu dài. Cái lớn nhất là Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta, dân tộc ta từ kiếp nô lệ lầm than, đứng lên tự giải phóng, giành quyền độc lập, và ngày nay đang sánh vai cùng các quốc gia, dân tộc trên cả thế giới. Điều này chắc Tiến sĩ Tụ không thể không biết. Đành rằng, so với cái chúng ta muốn còn phải lo nhiều hơn nữa, cũng phải cần nhiều thời gian nữa, nhưng chắc chắn không thể dài bằng 1000 năm Bắc thuộc và 100 năm Pháp thuộc. Nếu cứ vì cái nghèo, vì một bộ phận người nghèo (bởi nhiều lý do) mà quẩn quanh không dám lo việc đại sự thì đất nước sẽ không mở mày mở mặt ra được để mà sánh vai cùng các cường quốc năm châu. Việc tiết kiệm là rất cần thiết, nhưng cần “chi cho vinh quang của đất nước” thì vẫn phải chi. Cha ông ta có câu “mua danh ba vạn” kia mà. Chắc chắn Nhà nước đã có tính toán để chi. Tất nhiên đâu đó vẫn có những kẻ lợi dụng việc chi tiêu của công để vơ vét mưu lợi cá nhân. Việc ấy chúng ta vẫn phải có ý kiến với Nhà Nước, phải chống triệt để, mạnh hơn nữa như Tiến sĩ trăn trở. Nghèo mà biết “khoe sang” một cách đúng mức, đúng cách, đúng thời thì càng làm vẻ vang cho dân tộc, cho đất nước, để tiếp tục vươn lên mà khắc phục hết  cái nghèo, cái khó; để mỗi người, mỗi nhà, mỗi vùng nghèo tự hỏi tại sao mình nghèo mà tìm cách vươn lên với vị trí của người làm chủ. Không thể cứ ngồi mà chờ, mà đổ cho Nhà Nước, đòi Nhà Nước phải lo.

3. Việc chiếu bộ phim “Lý Công Uẩn – Đường tới Thăng Long” theo suy nghĩ của tôi thì hãy cứ để bộ phim “trình làng” để nhân dân được luận bàn. Chắc Tiến sĩ đã được xem, được duyệt phim nên băn khoăn. Nhưng cái gì chẳng có 2 mặt. Cứ “phơi” ra để mọi người thấy, cái xấu, cái sai ta sửa. Lo gì.

Mấy suy nghĩ của một người lính cũ ở nông thôn, xin được trao đổi cùng Tiến sĩ Nguyễn Xuân Tụ và các bạn.

Nguyễn Thế Tính, Cộng tác viên hiephoa.net, 28/9/2010

Dưới đây là toàn văn bức thư của Hà Sĩ Phu gửi Chủ tịch nước.

Việt Nam ngày 25-9-2010

Kính gửi: Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết

Tôi là công dân Nguyễn Xuân Tụ, tiến sĩ Sinh học, bút danh Hà  Sĩ  Phu, 71tuổi, thường trú tại 4E Bùi Thị Xuân, Đà Lạt, Lâm Đồng, trân trọng gửi đến Chủ tịch một ý kiến ngắn liên quan đến việc tổ chức Đại lễ “1000 năm Thăng Long-Hà nội”.

Kỷ niệm 1000 năm ngày ra đời và phát triển thủ đô Thăng long-Hà nội là một sự kiện có ý nghĩa rất thiêng liêng trong suốt chặng đường dài xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam ta, việc kỷ niệm long trọng là một chủ trương rất đúng.a

Tuy vậy, Đại lễ này tiến hành trong tình hình đất nước ta đang đứng trước những cơ hội và thách thức phức tạp: cả về xây dựng cũng như bảo vệ đất nước đều có hai mặt, mặt thành tựu đáng vui mừng và mặt yếu kém đáng lo âu. Mọi mặt đều có sự phân hóa theo hai đầu trái ngược

Trong dịp diễn  ra Lễ hội, không người Việt Nam yêu nước nào lại có thể mải vui mà quên tình trạng đất nước mình vẫn còn bị xếp hạng là một nước nghèo, số đông dân chúng vẫn còn phải kiếm sống rất chật vật, số đông vẫn chưa được hưởng quyền dân chủ để làm chủ đất nước.

Mối đe dọa bị xâm lấn và đồng hóa của nước láng giềng phương Bắc từ lịch sử 1000 năm đang hiện về rõ hơn lúc nào hết, và sự tự vệ, tự cường chủ quan của ta hiện nay nhiều mặt tỏ ra thua kém tổ tiên oai hùng thuở trước, trong khi điều kiện khách quan của thế giới hiện nay đã thuận lợi hơn trước rất nhiều. Mọi hiện tượng đã phơi bày trên báo chí khắp nơi, trong và ngoài nước, thiết tưởng không cần nhắc lại dài dòng.

Trong bối cảnh như vậy, tôi muốn bày tỏ 3 điều lo lắng cũng là ba đề nghị như sau:

1. Không thể khai mạc đại lễ vào ngày 1-10-2010. Ngày ấy không phải ngày vua Lý Công Uẩn thảo Chiếu dời đô, không phải ngày khởi sự dời đô (động thổ), nhưng lại là ngày Quốc khánh Trung Hoa!

Đã thế ngày kết thúc là 10 tháng 10 lại trúng Quốc khánh của Trung hoa dân quốc tại Đài Bắc! Một nhà nước biết tự trọng phải tránh sự trùng hợp ấy, nhất là trong tình trạng tranh chấp Việt Trung hiện nay. Đọc diễn văn trịnh trọng vào những ngày ấy khác nào lăng nhục từng người dân Việt, tránh sao khỏi miệng thế mỉa mai về thân phận của kẻ chư hầu? Riêng điều này sẽ làm cho Lễ kỷ niệm không nêu cao được truyền thống anh hùng chống ngoại xâm đáng tự hào của dân tộc, khiến kẻ thù phải kiêng nể, mà sẽ gây tác dụng ngược rất nguy hiểm.

2. Loại bỏ những hình thức hội hè, tuyên truyền quá tốn kém. Báo chí đã nêu chi phí Đại lễ khoảng 4,5 tỉ Mỹ kim, tức gần 1 phần 10 ngân sách quốc gia. Cần phải giảm bớt. Nhà nghèo không cứ phải khoe sang mới gây phấn khởi, trái lại sẽ là vết nhục trước cảnh bao nhiêu trường học còn đổ nát, học sinh phải đu dây qua sông đến trường, bệnh nhân không có giường nằm, bao nhiêu bé gái phải bán mình khắp năm châu làm nô lệ…

3. Không chiếu cuốn phim “Lý Công Uẩn – Đường tới thành Thăng Long” trong đợt kỷ niệm 1000 năm này, vì cuốn phim chưa được chuẩn bị kỹ lưỡng, mắc những sai lầm ngay từ gốc, sẽ gây phản cảm rất bất lợi trong dân chúng, có hại cho việc bồi dưỡng lòng yêu nước và giữ gìn văn hóa dân tộc.

Thưa Chủ tịch, kỷ niệm 1000 năm xây dựng Thủ đô văn hiến và bất khuất là một việc lớn lao vô cùng thiêng liêng, động đến tâm khảm của mỗi con dân nước Việt, mỗi thành công hay sai sót đều khắc sâu dấu ấn vào lịch sử. Với tâm sự ấy tôi viết thư này (cá nhân tôi cũng được thành người Hà Nội từ năm 1949), nhờ báo chí chuyển đến Chủ tịch nước, mong được ông lưu ý. Công hay tội của thế hệ chúng ta sẽ được khắc vào bia đá, mà người khắc sẽ là muôn đời hậu thế, không phải chúng ta.

Kính chúc Chủ tịch sức khoẻ.

Xin gửi Chủ tịch lời trân trọng và thống thiết của một công dân.

Kính thư

Nguyễn Xuân Tụ (Hà Sĩ Phu), Ts. Sinh học

Thông Cáo Báo Chí của ông Võ Đình Chương

Thông Cáo Báo Chí

Ngày 20 tháng 4 năm 2010

Kính gửi : Quý Vị Thân Hào Nhân Sỉ
Quý Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước
Quý Cơ quan truyền thông, Báo Chí

Kính thưa Quý Vị:

Tôi, Võ Đình Chương : Cộng tác viên với LM Nguyễn Văn Lý khi khối 8406 ra đời .

Kể từ khi tôi gửi TỐI HẬU THƯ ngày 14.02.2010 yêu cầu lãnh đạo nhà nước csVN trả tự do cho Cha Lý để ngài được trở về nhà chữa bệnh, tôi đã hoàn toàn im lặng cho đến nay. Sau khi csVN tạm cho Cha Lý về nhà chung Tổng giáo phận Huế để trị bệnh, tôi đã trực tiếp nói chuyện với Ngài qua điện thoại 3 lần.

Lần thứ nhất, Ngài gọi cho tôi bằng máy di động từ VN để thăm hỏi sức khoẻ tôi. Tôi vô cùng xúc động trước sự bất ngờ được nghe lại giọng nói của Ngài vẫn còn như ngày nào. Trước đây hơn 3 năm, hầu như mỗi ngày, hoặc mỗi hai ngày, cha Lý và tôi ít nhất phải có một lần điện đàm trao đổi tin tức, tình hình, hoặc phỏng vấn thu âm để phát thanh trên đài Radio Hải ngoại. Vì tinh thần trách nhiệm cùng với tình cảm gắn bó với Ngài, tôi luôn luôn ủng hộ Ngài hết mình, không ngoài mục đích mong muốn cho quê hương và đồng bào VN được Độc lập, Tự do, Dân chủ và Nhân quyền .

Lần thứ hai, tôi trực tiếp gọi phone về cho cha Lý để kiểm chứng nguồn tin thân cận cho tôi biết là trong nước định sẽ giao quyền lãnh đạo (chức vụ Chủ tịch) của đảng Thăng Tiến VN cho một người khác (không cho biết tên). Còn anh Nguyễn Phong khi csVN thả về thì chỉ giữ nhiệm vụ là cán bộ của đảng mà thôi.

Sau khi trao đổi tình hình chung trong và ngoài nước giữa cha Lý và tôi, những vấn đề tiếp theo là :

1. Tôi đề cập đến Ban Đại Diện của Đảng Thăng Tiến (Anh Nguyễn Phong và Anh Nguyễn Bình Thành ). Cha Lý trả lời rằng (nguyên văn): “NHỮNG NGƯỜI BỊ BẮT ĐÓ LÀ NGƯỜI TA XUNG KÍCH RA NHƯ VẬY ĐỂ XEM COI THỬ BÊN KIA HỌ ĐỐI XỬ NHƯ THẾ NÀO, ĐỂ TỪ ĐÓ MÀ ỨNG XỬ. CHỨ NHỮNG NGƯỜI NÀY LÀ NHỮNG CÁI ….. CÁI VẬT TẾ THẦN! HỌ LÀ NHỮNG CÁI NGƯỜI HY SINH THẾ THÔI, KHÔNG PHẢI LÀ CÁI NGƯỜI ĐIỀU HÀNH THỰC SỰ. CÒN CÁI NGƯỜI ĐIỀU HÀNH THỰC SỰ THÌ NGƯỜI TA LẠI THÔNG GIỎI HƠN NHIỀU … CẦN CÁI NGƯỜI SAU NÀY ĐỂ LÀM VIỆC CHỨ LỆ, CHỨ MẤY ANH ĐÓ THÌ CÓ GÌ ĐÂU ….”(Hết trích)

2. Khi đề cập đến tình hình đảng Thăng Tiến, cha Lý nói (nguyên văn: “CẢ MỘT CÁI KHỐI TOÀN LÀ NHỮNG TRÍ THỨC CAO CẤP. TRƯỚC ĐÓ ĐÃ CÓ NHIỀU LẦN CÔNG NHÂN ( Lê Thị Công Nhân) NÓI RẰNG LÀ: THĂNG TIẾN ĐÃ CÓ KHOẢNG 700 TIẾN HỮU. ĐÚNG ! CŨNG CÓ NHƯ VẬY THẬT, NHƯNG HỌ VẪN NẰM IM, CHO ĐẾN BÂY GIỜ HỌ VẪN NẰM YÊN ….” (hết trích)

3. Khi cha Lý nói tiếp về Liên đảng Lạc Hồng, tôi hỏi ngài: “BÂY GIỜ AI ĐẠI DIỆN CHO LIÊN ĐẢNG LẠC HỒNG?” Ngài trả lời: “ĐẾN LÚC MÀ ANH PHONG ĐÃ BỊ BẮT RỒI Á! Ở TRONG NƯỚC LÀ COI NHƯ CŨNG TÊ LIỆT, THÌ TẠM THỜI ĐỂ YÊN ….” ( hết trích )

Dỉ nhiên trong các cuộc điện đàm này, có nhiều vấn đề khác nữa, nhưng vì có liên quan đến danh tánh của anh em trong nước, nên tôi chỉ trích một vài vấn đề quan trọng này thôi.

Và như đã nói ở phần trên, tất cả các cuộc điện đàm với Cha Lý từ trước nay, tôi đều ghi âm để lưu hồ sơ làm chứng tích lịch sử. Các email liên hệ quan trọng tôi cũng in ra để lưu giữ. Nhờ đó, tôi đã mở nghe lại nhiều lần và không khỏi ngạc nhiên về những điều mờ ám và mâu thuẫn như sau:

- Trong phần 1 nêu trên, ở cuối câu, Cha Lý nói: “…CHỨ MẤY ANH ĐÓ (anh Phong và anh Thành ) THÌ CÓ GÌ ĐÂU”.

- Trong phần 3, cha Lý lại nói ngược lại: “ĐẾN LÚC MÀ ANH PHONG ĐÃ BỊ BẮT RỒI Á! Ở TRONG NƯỚC LÀ COI NHƯ CŨNG TÊ LIỆT, THÌ TẠM THỜI ĐỂ YÊN.”

Như vậy chính Cha Lý đã xác nhận: Anh Nguyễn Phong là người lãnh đạo quan trọng của đảng Thăng Tiến VN! Cho nên khi anh Phong bị bắt rồi thì Ở TRONG NƯỚC LÀ COI NHƯ CŨNG TÊ LIỆT!

- Trong phần 2, Cha Lý lại khẳng định: “CẢ MỘT CÁI KHỐI TOÀN LÀ NHỮNG TRÍ THỨC CAO CẤP”. Như vậy cả một cái khối trí thức cao cấp đó tại sao không làm được gì như anh Phong mà CHO ĐẾN BÂY GIỜ VẪN NẰM YÊN? Phải chăng vì không có Anh Phong lãnh đạo, hay là những trí thức cao cấp “CÒ MỒI” sau khi lùa anh em vô tù hết rồi thì xong việc ngồi chơi hưởng lộc?

Đối với tôi, những ai đồng lõa trong việc chủ trương dùng anh Nguyễn Phong, anh Nguyễn Bình Thành làm cái VẬT TẾ THẦN , là những kẽ độc ác và thủ đoạn, trong khi chúng ta là những người có TÂM LINH thì càng không thể tha thứ!

Tôi là người trung thành với Cha Lý lâu nay, nhưng sau nhiều ngày suy nghĩ và đắn đo, hôm nay tôi quyết định phải đưa tin tức này lên DĐ báo chí để cảnh báo những ai còn lầm lẩn , hãy tránh mang họa vào thân. Vẫn biết rằng, đưa những việc này ra ánh sáng sẽ làm phật lòng Cha Lý , nhưng tôi nghĩ Cha Lý cũng là nạn nhận của những con buôn chính trị mà thôi. Tôi thà làm mất lòng ít người mà cứu được nhiều người, mà trong đó đa số là những người thơ ngây chính trị, sẽ tiếp tục sa lưới như anh em đảng TTVN.

Lần thứ ba trong cuộc điện đàm với Cha Lý, ngài có đọc cho tôi nghe một lá thư của cán bộ đảng csVN gửi cho Ngài như sau (nguyên văn): “NHỮNG NGƯỜI CỘNG SẢN CÀNG NGÀY CÀNG ỦNG HỘ CHÚNG TA. TÔI VỪA NHẬN ĐƯỢC LÁ THƯ, HỌ NÓI RẰNG: CHÚNG TÔI LÀ NHỮNG NGƯỜI VÔ THẦN 90% LÀ ĐẢNG VIÊN, NHƯNG NAY NHỜ ƠN CHÚA VÀ NHỜ CHA, CHÚNG TÔI ĐÃ TỪ TỪ GIÁC NGỘ. CHÚNG TÔI LUÔN LUÔN SÁT CÁNH VỚI 8406 VÀ ÂM THẦM ỦNG HỘ 8406. CHÚNG TÔI LÀ MỘT TẬP THỂ ĐÔNG LẮM, HÀNG VẠN NGƯỜI, VÀ CHÚNG TÔI ĐANG PHẢI ÂM THẦM NHƯ THẾ. NGÀY CHA CHIẾN THẮNG, CHÚNG TÔI SẼ CÔNG KHAI XUẤT HIỆN VÀ CHÚC MỪNG CHA …” (hết trích)

Khi nghe cha Lý đọc lá thư này, tôi chợt nhớ đến hơn ba năm trước khi chưa bị vô tù, Ngài cũng đã nói với tôi là có sáu Uỷ viên Bộ chính trị csVN ủng hộ ngài và 8406. Nhưng sự thật trả lời là họ đã nhử cha Lý và anh em lãnh đạo đảng Thăng Tiến ra mặt để thộp cổ cho vô tù ! Vậy mà hôm nay Cha lý chưa sáng mắt sáng lòng, vẫn còn nuôi ảo vọng!

Tôi nghĩ rằng, những hy vọng và tin tưởng của Cha Lý đối với những tên cò mồi SỜ SỜ TRƯỚC MẮT rất có hại cho những người thật tình đấu tranh cho Tự Do và Dân Chủ của VN, nên tôi không thể im lặng để nhiều người sa lưới công an VGCS.

Vì vậy, tôi đã kết luận: “THÀ MẤT LÒNG ÍT NGƯỜI ĐỂ GIÚP ĐƯỢC NHIỀU NGƯỜI!”

Riêng ở Hải ngoại, tôi thiết tha kêu gọi Quý Đồng Hương, nhất là Quý Niên trưởng, Quý chiến Hữu QLVNCH hãy mau tập hợp lại thành một lực lượng NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA để tìm ra một giãi pháp mới, tiếp tục đấu tranh cho một nước VN được ĐỘC LẬP, TỰ DO, DÂN CHỦ.

Đối với Đồng Bào trong nước , không nhất thiết đòi hỏi chỉ có trí thức cao cấp , không phân biệt tầng lớp Nhân dân . Vấn đề là muôn người như một , cùng đồng tâm nhất trí đứng lên đòi hỏi nhà cầm quyền csVN phải trả lại Tự do – Dân Chủ và Độc lập cho Quốc Dân Việt Nam. Không chấp nhận bất cứ thoả hiệp , liên hiệp nào với bọn bành trướng Bắc kinh !!!

Những bài học Cách Mạng tại Ba Lan , nhà Cách mạng Lech Walesa chỉ là một anh Thợ điện tại xưởng đóng tàu Ba Lan , người đã lãnh đạo phong trào đấu tranh Tự do – Dân chủ cho nước Ba Lan thành công rực rỡ và lên làm Tổng Thống đầu tiên, cả Thế giới kính phục .

Cha Lý kính mến!

Con thật lòng xin lỗi cha, khi đưa bản tin này lên DĐ báo chí, mong Cha hảy xem đó như một hy sinh, hy sinh tình cảm riêng tư để cứu giúp mọi người. Trước khi cha ra khỏi nhà tù, con đã gửi nhìều hồ sơ quan trọng về trong đó nhờ người chuyển cho cha, nhưng có lẻ cha không cần biết. Vì vậy con không thể nói nhiều hơn với cha những gì con chứng kiến trong thời gian cha ngồi trong tù. Đến lúc này cha vẫn chưa nhận ra hậu quả LẦM NGƯỜI. Con chỉ mong cha yên tâm trị bệnh, như lời cha đã nói với con trong cuộc điện đàm là :“TOÀ GIÁM MỤC NHẬN LÃNH CHA VỀ TRỊ BỆNH, CHỨ KHÔNG PHẢI VỀ ĐỂ LÃNH ĐẠO KHỐI 8406.”

Những lời nói đó rất đúng, cha nên tuyên bố cho mọi người cùng biết để họ lo liệu. Nhất là đừng để bọn xôi thịt, bọn đấu tranh DC cuội trong và ngoài nước lợi dụng danh nghĩa của cha mà làm nhục và làm hại những người đấu tranh chân chính cho Tự Do, Dân Chủ của Việt nam .

Trọng kính

Võ Đình Chương

Nguyễn Anh Duy – Chuyện ở khu phố

Đã hơn 03 năm nay ở trọ trên đường Nguyễn Thị Nghĩa, P2, Tp. Đà Lạt, để theo học chuyên ngành Công nghệ Sinh học của trường Đại học Đà Lạt, tôi đã khá quen với những gì diễn ra ở đây và học được khối chuyện trong trường, ngoài lớp.

Sở dĩ chuyện khu phố sắp kể sau đây, mà một sinh viên như tôi lại quan tâm, bởi nhẽ: Gia chủ mà tôi ở trọ là gia đình cán bộ về hưu, bác T. (chủ nhà) lại được tín nhiệm vào Ban Điều hành khu phố, tôi thường trò chuyện với bác, nên những lúc rảnh rỗi ngồi tâm sự với bác, vô tình tôi cũng được biết khối điều về tình hình khu phố mà bác phụ trách.

Khu phố 2 là một trong những khu phố trung tâm nên khá nhiều dịch vụ dành cho khách du lịch phát triển, chẳng hạn: nhà hàng, khách sạn, dịch vụ massage, quán café, vũ trường… đều có cả. Những lúc họp khu phố về bác đều tỏ ý lo lắng, ngán ngẩm bởi những phức tạp thường xuyên diễn ra. Mỗi lần như thế, bác lại càu nhàu: “Du với chả lịch, thượng vàng hạ cám, cái gì cũng tìm đến, có ngày thì loạn mất!”

Có lần tôi tò mò hỏi: “Sao công an họ không quyết tâm ‘quét’ cho hết, cứ để như vậy biết đến bao giờ?” Bác thở dài: “Công an thì công an chứ, nhưng người đâu mà bủa giăng cho hết, với lại chặn chỗ này ‘nó’ lại thòi ra chỗ khác, kín đáo và hợp pháp hơn, tinh vi hơn thì làm gì được.”

Như sợ tôi không hiểu, bác giải thích: “Ví như thanh niên, học sinh la cà quán xá, tụ tập quậy phá, không lo học hành… chỉ khi chúng nó gây mất trật tự nơi công cộng thì công an mới dẹp, chứ chúng nó tụ tập đùa giỡn nơi quán xá thì cớ gì mà dẹp? Hay các dịch vụ massage, karaoke hiện nay hoạt động có giấy phép đàng hoàng, gái mại dâm họat động không hành nghề tại chỗ mà theo khách về khách sạn với danh nghĩa bạn gái của khách thì công an làm được gì? Thành phố du lịch thì biết bao nhiêu cặp trai gái ra vào khách sạn, làm sao biết được đâu là gái mại dâm?”

Tôi vẫn chưa thỏa mãn, nên hỏi bác: “Vậy luật pháp đành bó tay sao bác, không lẽ cứ để cho xã hội rối lên mà những người có trách nhiệm chỉ khoanh tay đứng nhìn?”

“Nhìn thế nào được?”, bác hơi gay gắt. “Nhưng thật sự cũng không dễ dàng dẹp bỏ, luật pháp thường chỉ chạy theo, khi có chuyện xảy ra rồi mới điều chỉnh, rồi chế tài, mà chế tài thì thiếu nghiêm khắc nên người vi phạm không sợ, cứ tái phạm, tái phạm một cách tinh vi hơn, cứ thế làm cho những người có trách nhiệm giữ gìn trật tự càng khó làm việc.” Bác tiếp, “công an dù được trang bị đấy, nhưng công an mà không có dân giúp thì cũng chẳng làm gì được,… cũng may khu phố này còn có nhiều người tốt, có trách nhiệm…”

Là sinh viên theo học chuyên ngành Công nghệ Sinh học, được biết bác T. là cán bộ Phân Viện Sinh học Đà Lạt về hưu, nơi tôi trọ lại là khu phố có khá nhiều cán bộ đang và đã từng công tác Phân Viện Sinh học Đà Lạt ở, nên tôi thường hay hỏi thăm bác T. về công việc của Phân Viện, hòng tìm hiểu thêm về nó, tôi rất muốn khi đi thực tập hoặc sau khi tốt nghiệp sẽ được làm việc tại đây nên lân la hỏi dò bác. Trong những người được kể, tôi đặc biệt chú ý đến bác Nguyễn Xuân Tụ – một người thuộc diện văn hay chữ tốt, nhưng cũng lắm chuyện khác dị, vì thế tôi càng tò mò hơn về con người này. Đầu tiên, tôi đã thử tìm kiếm trên google cái tên “Hà Sỹ Phu” và khá choáng về kết quả tìm kiếm, lần mò mãi tôi cũng tìm đến được thư viện của bác Nguyễn Xuân Tụ. Tôi đã thực sự bị cuốn hút với văn phong và những gì bác Tụ viết, song lòng tự hỏi tại sao bác lại bị xem là phản động…? Tôi thực sự chưa thể phân định được.

Tôi đem thắc mắc này hỏi bác T. thì được biết khá nhiều điều thú vị. Bác T. kể, trước đây bác Tụ cũng không đến nỗi, nhưng sau sự kiện Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, thì bác Tụ rất dao động, tư đó nảy sinh tư tưởng phủ nhận chủ nghĩa Marx, nhất là cho rằng chủ nghĩa Marx không còn giá trị lịch sử. Bác Tụ từ đó lao vào viết lách theo cách nhìn đó. Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã, bác Tụ lân la kết bạn với một số người đồng quan điểm dẫn đến có việc làm vi phạm pháp luật. Do vi phạm pháp luật mà bác Tụ bị xử lý bằng pháp luật, sau khi mãn hạn tù, chính quyền đã thực hiện lệnh quản chế tại gia, đến năm 2003, do có thái độ cầu thị nên được xem xét giải chế. Trước khi chính thức được giải chế, tổ dân phố đã họp để lấy ý kiến nhân dân khu phố về quá trình chấp hành lệnh quản chế của bác Tụ và cũng là để bác Tụ có lời trình bày trước bà con. Tại đây, bác đã bày tỏ nhận thức của mình về những sai lầm của bác, hứa với nhân dân khu phố sẽ không để vấp phải những sai lầm đó nữa, bác còn xúc động xin bà con chòm xóm láng giềng đùm bọc, vì cảnh bác và vợ đã cao tuổi lại sống đơn độc, không con cái, ít bạn bè… nơi đất khách quê người, bác tha thiết muốn được sống trong tình thương của chòm xóm láng giềng. Trước những tình cảm “chân thật” mà bác thể hiện, nhân dân khu phố đã đồng lòng kiến nghị lên Ủy ban Nhân dân tỉnh giải chế cho bác.

Được giải chế, bác Tụ không những được tự do đi lại mà còn được chính quyền cho lắp lại điện thoại, nối mạng internet để liên hệ bạn bè; được giúp hợp thức hóa chủ quyền miếng đất mà bác đang ở (vì trước đây, khi bác còn công tác tại Phân Viện Sinh học đã được nhà nước bố trí cho ở, sau đó do bác không có nhà chuyển đi, ở lâu ở lì thành ra của bác). Bác Tụ còn được cho sử dụng phần đất cơi nới, lấn chiếm để làm quán cho thuê… và bác vẫn nhận lương hưu theo chế độ, như bao cán bộ hưu trí khác.

Chính quyền và nhân dân khu phố vẫn tưởng, với những điều kiện đó bác Tụ sẽ chuyên tâm đầu tư vào công việc nghiên cứu, viết lách có ích cho xã hội, hoặc chí ít là sự chia sẻ kiến thức chuyên môn về lĩnh vực sinh học (mà bác là một Tiến sĩ) để lại cho đời, cho thế hệ mai sau. Thế nhưng, chỉ được một thờ gian, bác Tụ lại “ngựa quen đường cũ”. Bác T. thở dài ngao ngán: “Chẳng hiểu ‘chả’ nghĩ gì mà cứ làm hoài những chuyện không đâu. Xưa kia còn đi làm đã chẳng làm gì nên chuyện, nay về hưu rồi, ngồi phán như ‘bố chó xồm’, cái đầu thì bé tí mà toàn nói chuyện cao siêu, coi thiên hạ không ai ra gì cả.”

Bác T. kể tiếp: Lúc trước còn làm ở Phân Viện Sinh học, bác Tụ đã tự tách mình ra khỏi tổ chức bằng lối sống hết sức lập dị, làm những việc không giống ai, được cái là có tài viết lách và nhất là khá rành về chữ Nho, đối chữ, đối câu, nên mọi người cường điệu gọi đùa là sĩ phu Bắc Hà. Dần dà bác ấy lấy bút danh là Hà Sỹ Phu và gọi riết thành quen. Bác Tụ khẩu khí trong văn phong thì rất khí khái nhưng lại đặc biệt rất nhát, bác T. cùng công tác chung khá lâu nên rất hiểu tính cách này, mỗi khi có sự cọ xát, va chạm nào đó thì thường lui về thế thủ “dĩ hòa vi quý”, trong lòng không ưng nhưng lại không thẳng thắn nói ra, mà chỉ thủ thỉ vào tai người này người kia để họ lên tiếng giúp. Lúc đầu, nhiều người cũng sẵn lòng giúp, nhưng sau vài lần bị hớ vì không hiểu rõ thực chất vấn đề, vội tin vào những điều bác Tụ thủ thỉ mà ra tay nghĩa hiệp, đến khi lâm nạn, bị chất vấn không giải thích được thì bác Tụ cũng chẳng tham gia, không những thế còn phủi trách nhiệm, nói rằng bác “đâu có nói thế!”… cứ thế mà người trong Phân Viện ngày càng lảng tránh và xa lánh bác.

Trở lại vấn đề của bác Tụ, bác T. cho biết do nguy cơ khu phố của bác sẽ bị mất danh hiệu “Khu phố văn hóa năm 2009”, lý do chính không phải do các phức tạp tại khu phố, mà chính là sự tái phạm cam kết của bác Tụ. Sau nhiều lần sai phạm, chính quyền nhắc nhở nhưng bác vẫn chứng nào tật nấy. Đã không tiến bộ mà còn ngày càng sa đà, cuối cùng buộc khu phố phải họp để kiểm điểm bác. Thế nhưng bác ấy không đến!

Nhiều người tỏ ra thông cảm, cho rằng bác Tụ biết sợ dân, nhưng có người thì coi đó là thái độ thách thức dân, xem thường dân. Người ta còn phân tích: với vị trí là một Tiến sĩ, tuổi bác Tụ cũng không còn ít để mà cho rằng phản ứng trên của bác là hời hợt. Thế nhưng nếu đã suy nghĩ thấu đáo thì tại sao không dám đến dự họp tổ dân phố? Bác T. nhận định: sở dĩ bác Tụ không đến là vì cho rằng cuộc họp này đã được khu phố và chính quyền chủ động sắp xếp nhằm đấu tố với bác Tụ, người dân sẽ có dịp lên án những hành vi sai phạm, thất hứa của bác Tụ, đến đấy nhất định bác Tụ sẽ phải nghe những lời nghịch nhĩ… xem ra cũng có lý. Nhưng xét ở một khía cạnh khác thì sự xuất hiện của bác Tụ là cần thiết, tại sao bác Tụ không nhân dịp này để thực hiện những điều mà bác vẫn thường nói: tranh luận, đối thoại, nâng cao dân trí… Thiết nghĩ, đã là cuộc họp tổ dân phố thì thành phần chỉ có thể là những người dân trong tổ và những người được giao trách nhiệm Ban Điều hành (tổ trưởng, tổ phó), một tổ dân phố cao lắm là 20 hộ (nghĩa là có 20 đại diện đến họp), người dân trong tổ dân phố thì có đủ mọi thành phần… một diễn đàn nhỏ với hơn 20 người tham dự mà bác Tụ không dám đối diện để đối thoại thì làm sao dám nói đến những việc khác lớn hơn? Nếu bác Tụ xuất hiện, làm xoay chuyển được một cuộc họp với hơn 20 người ở các thành phần xã hội, khiến người ta nghe ra, hiểu được thì đó mới là một sự trải nghiệm có giá trị, một thực tế có khả năng chứng minh cao, hơn nhiều so với những lý luận mà bác từng nghiên cứu, phân tích. Nhưng bác Tụ không dám đến, còn khóa cửa ngồi trong nhà, trong khi tổ dân phố họp chỉ cách nhà bác vài căn, thử đóan xem bác ấy đã nghĩ gì trong suốt thời gian diễn ra cuộc họp?

Mới có thơ rằng:

Bác có cả một thư viện sách

Hàng nghìn trang do chính bác viết ra

Bác viết cả chuyện trên trời, dưới đất

Chuyện cung đình cho đến chuyện hà sa

Những lý luận ngày đêm tâm huyết

Vắt nên thành những con chữ thanh cao

Bao lý luận bác dày công phân tích

Chỉ để nghe thôi, chớ vội tin vào…

Họp dân phố, chỉ hơn vài chục

Người tham gia đủ mọi giai tầng

Diễn đàn ấy bác không xuất hiện

Thì bác chờ biết đến khi nào?

Vừa rồi tìm trên mạng có bài viết về bác Hà Sĩ Phu mà tôi vô tình nhận được, xin phép tác giả được đăng lại đây để bạn đọc tham khảo:

Thơ tặng người quan sát

Tặng ông dân chủ NQS

Có phải Sỹ Phu là chỉ VIẾT

Còn LÀM, là việc của thứ dân?

Nên mỗi bận khua môi, múa mép

Chẳng cân phân giữa Viết và Làm?

Bao kẻ xông pha nơi hiệp chót,

Quyết trận này gắng sức một phen

Ông lại núp danh… “người quan sát”

Thở than làm nhụt chí anh em.

Nếu cảm thấy mình không đủ sức

Hãy nằm im quan sát nghe ông?

Còn đã quyết dấn thân vì nước

Hãy chính danh quân tử xem nào?

Tháng X, 2009
Trần Khuê

http://www.talawas.org/?p=13187

http://www.bauxitevietnam.info/c/17960.html

Suy nghĩ sau bài viết “Thảo luận với Hà Sĩ Phu” của Lữ Phương

“…nghĩ đến những bài viết phê phán trên báo Nhân Dân và Tạp chí Cộng sản thì rất buồn lòng…”

Sau khi đọc bài viết “Thảo luận với Hà Sĩ Phu“ của tác giả Lữ Phương, tôi có một số suy nghĩ, muốn được cùng chia sẻ với mọi người, nên mạnh dạn viết ra ở đây.

Tôi xin trích 04 đoạn sau đây trong bài viết trên để làm cơ sở cho những suy nghĩ của mình:

Trích đoạn 1: “Hà Sĩ Phu được đào tạo như một cán bộ khoa học tự nhiên, nhưng từ khi đất nước bước vào thời kỳ “đổi mới”, ông đã quan tâm đặc biệt đến tình hình vãn hoá, tư tưởng trong cái chế độ mệnh danh “xã hội chủ nghĩa” mà ông được đào tạo và sinh sống. Khởi đầu từ tình trạng gọi là “nghịch lý” diễn ra trong tất cả mọi lĩnh vực của chế độ (nói một đằng làm một nẻo, lý thuyết cho là đẹp đẽ nhưng thực hiện rất tồi tệ, mục đích cho là cao thượng nhưng hành động gian xảo …) ông đã phăng ra cái cãn bệnh cố hữu về tinh thần không phải chỉ của chế độ mà còn của cả cái cộng đồng quốc gia mà ông là một thành phần. Với ông, việc phê bình chế độ cộng sản hiện hữu do đó chỉ là điểm khởi hành để vươn tới mục đích cao hơn là canh tân tư duy dân tộc, vì theo ông ” cộng sản chỉ là biều hiện của một não trạng ngàn đời của dân tộc”.

Trích đoạn 2: “Nhận ra tính chất tư biện và không tưởng trong lý luận của Marx là điều không mới trong giới nghiên cứu chủ nghĩa Marx từ trước đến nay. Tôi không có gì để tranh cãi với Hà Sĩ Phu ở điểm này. Nhưng vấn đề cần bàn luận ở đây chính là những luận cứ mà tác giả đưa ra để phê phán Marx: thay vì cố gắng đi vào tìm hiểu từ cái hệ thống suy luận nội tại của học thuyết Marx để chứng minh, tác giả lại dựa vào rất nhiều thứ không có trong Marx, không phải của Marx, những cái đã bị biến thái, bị ngộ nhận, từ rất nhiều nguồn khác nhau – quan trọng nhất là từ thứ ý thức hệ phản Marx trong chế độ mệnh danh “chủ nghĩa xã hội hiện thực” cộng với những công kích dễ dãi của các loại chủ nghĩa chống cộng ra đời trong cuộc Chiến tranh Lạnh trong thế kỷ trước nay vẫn còn tàn dư – qua đó xây dựng nên một thứ hình ảnh giả định về “chủ nghĩa Mác” để phê phán và làm cho sự phê phán ấy mất đi sự nghiêm chỉnh cần phải có.”

Trích đoạn 3: “Vấn đề nhìn lại bản sắc truyền thống dân tộc, qua sự phân tích của tác giả, đã mang nhiều điểm độc đáo, nhưng cũng có nhiều điều tuỳ tiện, khó thuyết phục. Cũng như với “chủ nghĩa Mác-Lênin”, chuẩn mực tác giả dựa vào để phê phán những nhược điểm trong vãn hoá cổ truyền của người Việt là nền Vãn minh được tác giả coi là tiêu biểu cho Trí tuệ, Khoa học, Dân chủ, Nhân quyền thể hiện trong chế độ tư bản hiện đại. Dựa trên tiêu chuẩn ấy mà xét thì vãn hoá cổ truyền của Việt Nam cho đến bây giờ vẫn giẵm chân trong cái nền vãn hoá châu Á thời nông nghiệp thiếu nãng động, thiếu duy lý, thiếu rành mạch, biểu hiện rất cụ thể cả trong chế độ cộng sản mệnh danh “tiên tiến” hiện nay.Trong sự nhận xét tổng quát ấy, có một điều được tác giả quan tâm đặc biệt, quan trọng đến mức coi đó là cái tệ hại nhất của dân tộc, khiến con dân Việt Nam chúng ta ” không thể đi xa”, tự mình làm “mất quyền làm chủ xã hội” hoặc khả nãng làm chủ có thể “bị diệt tận gốc”: ấy là cái sự kiện chúng ta là một dân tộc được tác giả xếp vào những dân tộc ” không có Tư tưởng hay coi nhẹ Tư tưởng” (“Thư gửi Đỗ Mạnh Tri”) ! “

Trích đoạn 4: “Có thể tác giả sẽ cho rằng những phân tích của ông không phải là một thứ chỉ trích bi quan về dân tộc mình mà chỉ là một sự phản tỉnh, diễn đạt có hơi cường điệu, gay gắt thì cũng chỉ xuất phát từ nỗi mong mỏi đất nước mau thoát ra khỏi cái vũng lầy trì trệ để có thể bước nhanh lên con đường vãn minh trí tuệ của loài người. Chúng ta chia sẻ những ưu tư, những dằn vặt của ông trước sự xuống cấp về vãn hoá của xã hội hiện nay và hiểu được cái khát khao của ông muốn đem vào cuộc sống một cái gì có thể gọi là “tử tế” hơn cho những gì mà chúng ta đang có. Nhưng khi phân tích một cách có hệ thống những gì tác giả viết, tôi thấy, như đã nói qua ở trên, cách xới lên sự kiện, lý giải vấn đề của ông đã quá nghiêng về phần đối chiếu kiểu lôgích hình thức, không có cơ sở trong thực tế, nhất là lại được diễn đạt bằng một lối viết có tính chất cường điệu, đả kích, châm chọc, đầy cảm tính kiểu “vãn nghệ” nên không có đủ sự khách quan, chừng mực để được xem là những suy tưởng chính luận nghiêm chỉnh đáng mong muốn.”

1. Lữ Phương có tình cảm trân trọng và chia sẻ với tinh thần yêu nước, dành nhiều tâm huyết, sức lực cho những vấn đề trọng đại của xã hội, đất nước của Hà Sĩ Phu. Tuy thế, trọng tâm bài viết của Lữ Phương là phê phán cách lập luận của Hà Sĩ Phu trong các tiểu luận của ông. Lữ Phương đã cho thấy một tinh thần tỉnh táo để phê phán trong tình cảm yêu mến giữa những người cùng đang trên con đường Dân chủ, tránh được thái độ tung hô, ca ngợi thiếu thận trọng khi mới thấy những hiện tượng, biểu hiện bên ngoài của cá nhân hay tổ chức vì “ Dân chủ” đã diễn ra trong thời gian gần đây, mà hệ lụy của nó đã rõ.

2. Mặc dù chưa có điều kiện đối chiếu và kiểm chứng những lập luận của Lữ Phương về chủ nghĩa Marx khác với cơ sở phê phán của Hà Sĩ Phu, tôi thấy cách lập luận, phân tích của Lữ Phương có sự thuyết phục (minh bạch, logic). Điều này cho ta thấy tinh thần phê phán phải dựa trên dữ liệu khách quan và chính xác cho dù có cùng đi đến một kết luận là “sự tư biện và không tưởng” ở trong chủ nghĩa Marx, đây chính là cơ sở cho một tư duy độc lập có thể tự đánh giá được tình hình sự kiện một cách khách quan, chính xác, không phụ thuộc vào các kết luận đã có hoặc sự ồn ào của dư luận. Đây cũng chính là vấn đề phong trào dân chủ cho Việt nam đã gặp phải trong thời gian vừa qua.

3. Sự khái quát đối với tính cách dân tộc của Hà Sĩ Phu, theo tôi, cũng có phần phiến diện và nặng nề, cho dù như Lữ Phương suy đoán là có thể do tác giả “cường điệu” để gây hiệu quả cho nhận thức của dân chúng. Tuy nhiên, về vấn đề này, theo tôi, phải thận trọng vì đặc điểm tính cách của một dân tộc được thể hiện ở nhiều chiều kích khác nhau (không chỉ ở tư tưởng…) và nó bị ảnh hưởng, áp chế bởi nhiều yếu tố. Hơn nữa, nếu đưa ra một nhận định thái quá dễ làm cho ta bi quan, tự ti hoặc ngược lại như đã xảy ra. Theo tôi cả hai thái cực đó cần tránh. Tôi cũng suy đoán, có lẽ do rất bức xúc với những nhiễu nhương của thời cuộc và trãn trở với đất nước nên Hà Sĩ Phu đã cố tình đưa ra một nhận định có phần gay gắt đối với chính dân tộc mình (chính mình?) để đề cao sự cầu thị, cầu tiến chăng. Còn nếu đó là nhận định thẳng thắn của tác giả (Hà Sĩ Phu) thì đó cũng không phải là điều lạ, bởi trước đó đã có nhiều học giả đưa ra những nhận định tương tự (ví dụ: học giả Trần Trọng Kim đã liệt kê một loạt tính xấu có tính phổ quát cho dân tộc Việt trong tác phẩm Việt nam sử lược: hay có tính tinh vặt, cũng có khi quỷ quyệt, và hay bài bác nhạo chế. Thường nhút nhát, hay khiếp sợ, tâm địa nông nổi, hay làm liều, không kiên nhẫn, kiêu ngạo và hay nói khoác,…). Theo tôi, một câu chê “quá tay” luôn đem lại điều tốt đẹp cho đối tượng nhiều hơn đối với một lời khen “ hào phóng”. Sự gay gắt, khái quát đó của Hà Sĩ Phu, cho dù tôi không hoàn toàn đồng ý, là một tâm huyết rất xúc động. Tôi cũng đồng ư với Lữ Phương “Cái “bãi lầy” mà dân tộc đang vùng vẫy thoát ra không quá ‘nhão nhẹt’”, nhưng chắc chắn sẽ cần rất nhiều tâm huyết và sự quyết liệt.

4. Các bài tiểu luận của Hà Sĩ Phu (như Lữ Phương cãn cứ để phê phán), theo tôi, cái quan trọng nhất là đã đưa ra được đúng vấn đề rất thời sự và chính xác của bối cảnh Việt nam và cách viết, cách lập luận đã gợi mở được những suy tư, thúc giục được lòng tự trọng của người đọc đối với những vấn đề xã hội, chính trị, đó là cái rất cần đối với một xã hội muốn phát triển (ý thức công dân phải mạnh). Đúng là cách viết của Hà Sĩ Phu có mang hơi hướng châm biếm, sâu cay kiểu các cụ đồ ngày xưa, như cách nói của Lữ Phương là “ vãn nghệ”. Nhưng theo tôi, mỗi người có một vãn phong khác nhau để truyền đạt suy nghĩ của mình đến mọi người, miễn là nó hiệu quả (dễ hiểu, chính xác và lay động). Với cách nhìn thế, cách viết của Hà Sĩ Phu, cho dù là “ vãn nghệ”, đã là một cách thức tốt (ít ra là đối với cái cần truyền tải của Hà Sĩ Phu). Hơn nữa, theo tôi, vai trò của vãn nghệ, vãn học cũng rất quan trọng trong việc truyền tải tư tưởng, đôi khi còn hiệu quả hơn cách viết hàn lâm, khoa học khô khan. Tôi nhớ lại có một tác phẩm văn học đã từng được coi là nguyên nhân dẫn đến phong trào giải phóng nô lệ ở Hoa kỳ và sau khi cuộc chiến Nam- Bắc kết thúc (phe bãi bỏ chế độ nô lệ chiến thắng) Abraham Lincohn đã gặp ngay tác giả để cảm ơn. Và cũng có nhiều ví dụ tương tự ngay ở Việt nam, như một số tác phẩm của Dương Thu Hương, Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh… đích thực là văn nghệ nhưng đã có tác dụng đối với tiến bộ cho xã hội, cho dù chưa tạo ra được sự thay đổi lịch sử như trường hợp trên ở Hoa kỳ.

5. Tinh thần đối thoại, phản biện của Lữ Phương đã cho ta một sự yên tâm là cách phản biện như thế sẽ dẫn đến những đối thoại rất bổ ích, khoa học, nhân bản, tránh được những thành kiến, đố kỵ, hẹp hòi. chủ quan, chụp mũ, cãi vã rất vô ích và nguy hiểm cho xã hội mà hai trường phái “thân cộng” và “chống cộng” rất hay xảy ra. Cách phản biện đó điềm đạm, trân trọng, nhưng cũng rất thẳng thắn. Tôi tin rằng điều đó sẽ dẫn đến tìm ra chân lý, sự thật mà cả người phản biện lẫn người bị phản biện sẽ cùng đồng ý, hoặc ít ra là hai bên sẽ vẫn coi nhau là những người đáng trọng (đến đây, nghĩ đến những bài viết phê phán trên báo Nhân DânTạp chí Cộng sản thì rất buồn lòng). Phong cách tranh luận, phản biện như vừa nói không phải chưa bao giờ có (thời Việt nam còn là thuộc địa của Pháp, các cuộc bút chiến giữa các trí thức Việt nam lúc đó cũng luôn theo nguyên tắc lịch thiệp, thẳng thắn như thế), nhưng chỉ tiếc rằng đã rất lâu, từ 1954 đến nay ở miền Bắc và 1975 đến nay trên toàn cõi Việt nam, sự thống trị độc đoán về tư tưởng đã loại bỏ mất tinh thần tranh biện cần thiết đó. Điều vui mừng là tinh thần đó đang được tái lập, nhưng chưa phải trên hệ thống chính thống của nước Việt nam.

6. Hy vọng từ bài viết phản biện của Lữ Phương sẽ có những phản hồi tích cực không chỉ từ người bị phản biện và sẽ tạo nên một truyền thống phản biện khoa học, đẹp cho nền học thuật và xã hội nói chung. Đó cũng là đóng góp để mọi người có cái nhìn khách quan hơn vượt lên những ý nghĩ “khách quan” trong cái “chủ quan” của cá nhân.

7. Tấm lòng trăn trở, tâm huyết với sự phát triển của dân tộc, sự uyên bác, điềm đạm, thẳng thắn, trọng thị trong nghiên cứu tranh luận của các bậc trí thức đi trước như của hai ông Lữ Phương, Hà Sĩ Phu và các bậc cao niên khác sẽ luôn là nguồn cảm hứng, động lực, là tấm gương cho lớp người đi sau như chúng tôi.

Hà nội,02/07/2007
Phạm Hồng Sơn
© Thông Luận 2007

 

Thảo luận của ông Lữ Phương với ông Hà Sỹ Phu

luphuongHà Sĩ Phu được đào tạo như một cán bộ khoa học tự nhiên, nhưng từ khi đất nước bước vào thời kỳ “đổi mới”, ông đã quan tâm đặc biệt đến tình hình văn hoá, tư tưởng trong cái chế độ mệnh danh “xã hội chủ nghĩa” mà ông được đào tạo và sinh sống. Khởi đầu từ tình trạng gọi là “nghịch lý” diễn ra trong tất cả mọi lĩnh vực của chế độ (nói một đằng làm một nẻo, lý thuyết cho là đẹp đẽ nhưng thực hiện rất tồi tệ, mục đích cho là cao thượng nhưng hành động gian xảo …) ông đã phăng ra cái căn bệnh cố hữu về tinh thần không phải chỉ của chế độ mà còn của cả cái cộng đồng quốc gia mà ông là một thành phần. Với ông, việc phê bình chế độ cộng sản hiện hữu do đó chỉ là điểm khởi hành để vươn tới mục đích cao hơn là canh tân tư duy dân tộc, vì theo ông “cộng sản chỉ là biều hiện của một não trạng ngàn đời của dân tộc”.

Đọc những bài lý luận chuyền tay ông viết từ 1993 đến nay (*) (tất cả đã lên mạng toàn cầu), chúng ta thấy hai chủ đề lớn sau đây đã được đề ra và dẫn giải: 1) Thực chất của “chủ nghĩa Mác-Lênin”, 2) “Chủ nghĩa Mác-Lênin” và vấn đề canh tân dân tộc. Chúng ta sẽ dựa vào cái mạch tư duy qua những chủ đề ấy để lần lượt thảo luận với tác giả.

 ***

 Thực chất của “chủ nghĩa Mác-Lênin”

1. Chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa “Mác-Lênin”

 Có một điều cần chú ý : tác giả sử dụng mấy chữ “chủ nghĩa Mác-Lênin” cùng nội dung với khái niệm “chủ nghĩa Mác”. Lý do được ông viện ra để không cần phải tách bạch Marx với Lenin (cũng như Marx với Engels, với Stalin…) là do “tất cả vẫn thuộc một dòng; và sự chuyển hóa từ người nọ sang người kia, về cả những điều kế thừa và sai biệt , đều là hậu quả quả tất yếu của cái gốc ban đầu” (Chia tay ý thức hệ). Mặc dù những nhận xét của ông về chủ nghĩa Marx có nhiều điểm xác đáng nhưng cái cách giản lược mọi thứ vào một cục đó lại tạo ra không ít bất ổn trong biện luận, làm cho những nhận xét của ông thiếu đi nhiều sự nghiêm chỉnh mang tính chất học thuật cần thiết, vì lẽ những vấn đề đặt ra, từ căn bản, là một vấn đề học thuật. Có rất nhiều điều cần bàn cãi, ở đây chúng ta chỉ nêu ra một vài điều quan trọng.

Trong vấn đề duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tác giả khen phần “duy vật biện chứng” trong học thuyết “Mác-Lênin” là khoa học, tiến bộ, nhưng lại chê phần “duy vật lịch sử” đã chứa “những kẽ hở mang màu sắc phân tích cực đoan, duy tâm chủ quan, tách rời, máy móc”. Thật sự thì khái niệm “duy vật” được dẫn ra ở đây, dù là để khen (hay để chê) cũng là điều xa lạ với quan điểm triết học của Marx. Những ai tiếp xúc trực tiếp với những tác phẩm của triết gia này đều thấy khái niệm đó không mang nội dung của thứ “chủ nghĩa duy vật” mà người ta thường hiểu: một bản thể duy nhất tự thân tồn tại, tự thân vận động, tạo ra mọi hình thái hiện hữu khác nhau của vũ trụ, trong đó có thế giới tinh thần. Tất cả lập luận của Marx không dính dáng gì đến sự tồn tại của cái bản thể vật chất về vũ trụ đó (và đi kèm theo đó là một thứ tinh thần kiểu vũ trụ như Hà Sĩ Phu đã giả định) mà chỉ xoay quanh mối quan hệ thuộc cái xã hội của con người, do con người tạo ra – một bên là tồn tại xã hội và bên kia là ý thức xã hội, hai thực thể này thống nhất với nhau một cách hữu cơ và chỉ tách rời nhau trong những hoàn cảnh con người tự phân thân, ở đó ý thức tách rời tồn tại để trở thành sự biểu hiện hư ảo và huyễn hoặc về hiện thực và bản thân.

Luận đề “tồn tại quyết định ý thức” trong học thuyết Marx nếu gọi được là “duy vật” thì phải được hiểu như một hiện thực không vĩnh viễn trong quá trình con người tự hình thành, là quá trình con người sử dụng công cụ để cải tạo xã hội và bản thân nhưng lại tự mình đánh mất bản thân trong quá trình ấy. Những gì mà Marx diễn giải xoay quanh các khái niệm kinh tế, lợi quyền… cũng chỉ mang ý nghĩa “những lợi ích vật chất” trong giai đoạn này, một giai đoạn mà trong khi bằng lao động có ý thức con người tạo ra của cải cho mình thì lại bị chính những điều kiện lao động tạo ra của cải đó biến mình thành những sinh thể mù quáng giẵm đạp lên nhau để tranh sống, khốc liệt không khác gì cuộc cạnh tranh sinh tồn trong cõi tự nhiên với những quy luật vô ý thức của nó. Trong lập luận của Marx, chủ nghĩa tư bản chính là hình thái kinh tế xã hội đã đẩy con người đến chỗ xa lạ với bản thân (tha hoá) một cách tột đỉnh: những chủ thể lao động đã trở thành công cụ bị khai thác hết mức để làm trương nở một cách vô độ cái đống của cải do một thiểu số chiếm hữu không biết sử dụng với mục đích gì ngoài việc tiếp tục quá trình nhào nặn con người thành vật, thành máy.

Khái niệm “bóc lột giá trị thặng dư” đã được Marx sử dụng để diễn tả cái cơ chế vận động mù quáng nói trên của chế độ tư bản xét trên tổng thể, tức là cái phương thức tạo ra sự dồi dào về của cải mang tính chất tư bản chủ nghĩa : lấy lao động chết (đã tích tụ thành tư bản) để hút lao động sống của công nhân và làm cho thứ lao động chết (tư bản) ấy phình ra không giới hạn, như con quỷ uống máu người không bao giờ hết khát. Và hiện thân cho cái cơ chế tha hoá lao động trong chế độ tư bản với cái phương thức bóc lột đó là hai giai cấp đối đầu nhau, được Marx gọi là tư sản và vô sản. Những ai đọc Marx đều biết, đặt hai thực thể này vào cái lôgích biện luận của ông, sự mâu thuẫn của hai thái cực đó không phải chỉ là sự đối kháng về quyền lợi giữa những đơn vị riêng biệt trong từng cơ sở sản xuất (những đối kháng cụ thể này có thể dàn xếp được) mà chính là hai khái niệm có được bằng trừu tượng hoá, vận hành trong cái cơ chế tư bản chủ nghĩa theo giới thuyết của Marx; không lĩnh hội được ý nghĩa khái quát này của các khái niệm, chúng ta sẽ không thể nào hiểu được cái lý luận về sự tự huỷ của chế độ tư bản từ đó sinh thành cái xã hội thay thế .

Có thể hình dung mâu thuẫn của hai giai cấp đó là cuộc đối đầu diễn ra trong một không gian không có vật cản mà cái lực đẩy chúng đi chính là cái phương thức khai thác lao động thặng dư mang tính chất đặc trưng tư sản mệnh danh là “bóc lột giá trị thặng dư”. Kết quả của cuộc đối đầu lôgích ấy như thế nào thì chúng ta có thể nhìn ra được. Giai cấp tư sản, buộc phải tuân thủ quy luật cạnh tranh sinh tử để tồn tại, đã không biết làm gì khác hơn là cố gắng tích tụ tài sản ngày càng nhiều; sự cạnh tranh ấy tất yếu cũng sẽ dẫn đến sự triệt tiêu lẫn nhau để cuối cùng sự tích tụ sẽ dẫn đến những hình thức độc quyền (trong đó cao nhất là độc quyền nhà nước); tất nhiên để có được kết quả như vậy giai cấp tư sản buộc phải tăng cường tối đa việc bóc lột sức lao động của công nhân, làm cho công nhân ngày càng thành máy thành vật để dễ thao túng, nhưng càng ngày lại càng trở nên đông đảo về số lượng do cuộc cạnh tranh tư sản khốc liệt tạo ra trên quy mô toàn xã hội (Marx gọi là quá trình “vô sản hoá”: nông dân mất đất, tiểu thương tiểu chủ phá sản, quý tộc, trí thức suy sụp… tất cả đều phải gia nhập hàng ngũ vô sản).

Không khó gì để nhận ra cái lôgích tối đa hoá, phân cực hoá về mặt xã hội do Marx hình dung với những kết quả không thể nào tránh được: chế độ tư bản ngày càng sung mãn thì giai cấp tư sản ngày càng gom lại thành một thiểu số những tập đoàn độc quyền cô lập; trong khi đó giai cấp công nhân càng ngày càng nghèo đi vì bị bóc lột thì lại ngày càng trở thành đại đa số dân cư bất mãn cùng cực và trong tình thế cực đoan ấy cuộc lật đổ chế độ tư bản nổ ra sẽ là một tất yếu: giai cấp tư sản sẽ chết trên sự giàu sang do mình tạo ra. Nhưng những ai đọc Marx đến nơi đến chốn đều biết cuộc đấu tranh của công nhân trong chế độ tư bản đã không dừng lại ở đó: nếu là cuộc lật đổ chỉ vì mục đích hoán vị “lợi quyền” thì cuộc lật đổ ấy sẽ không bao giờ trở thành cuộc cách mạng mệnh danh được là mácxít. Để hoàn thành cuộc cách mạng mang ý nghĩa đó, giai cấp công nhân phải trở thành giai cấp vô sản theo nghĩa mácxít: phải tự mình vượt khỏi tình trạng mất nhân tính và tha hoá để tự mình tạo ra cho mình cái ý thức về sự phục hồi nhân tính phổ quát cho giống loài, thông qua sự phục hồi nhân tính phổ biến cho bản thân. Sự đau khổ mà giai cấp vô sản đặc thù phải gánh chịu ở đây đã trở thành sự đau khổ phổ biến để giai cấp vô sản đặc thù ấy tự mình ý thức được sứ mệnh chấm dứt mọi đau khổ phổ biến cho cả loài người.

Hành vi cuối cùng của người đi chấm dứt khổ nạn cho nhân loại cũng sẽ phải là cái chết tự nguyện của bản thân nó: để thực hiện cái nhân tính phổ biến nhân loại, giai cấp vô sản không thể không tự mình chấm dứt sự tồn tại của mình như một giai cấp với tất cả những gì liên hệ đến mọi thứ giai cấp, từ những định chế pháp lý, chính trị đến văn hoá và tư tưởng. Cái trạng thái xã hội do Marx hình dung ra cho tương lai ấy thường được mệnh danh là “cộng sản chủ nghĩa” nhưng diễn tả cho thật đúng tinh thần của Marx thì phải gọi đó là cái xã hội cộng đồng chủ nghĩa (communisme), một hình thái công xã (commune) trên phạm vi toàn thế giới, ở đó mọi tư liệu sản xuất đều trở thành tài sản xã hội, nhà nước công cụ của giai cấp tư hữu trước đây nay sẽ trở thành những cơ quan quản lý sản xuất còn những người lao động thì sẽ kết tập thành liên minh của những người hợp tác trong bình đẳng, tự nguyện. Không còn chuyện những con người bị những nhu cầu “văn hoá cấp thấp” cùng với cơ chế xã hội ngang tầm với nó chi phối, đè nén nữa. Trong cái liên hợp tự giác đó, theo cách diễn tả của Tuyên ngôn cộng sản : “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mỗi người”, sự bất hoà giữa cá nhân và xã hội cũng sẽ vĩnh viễn chấm dứt. Không hề có bất cứ một hy sinh nào của cá nhân cho xã hội.

2. Chủ nghĩa “Mác-Lênin” và chủ nghĩa Marx

 Tính chất tư biện và không tưởng của cái mô hình xã hội tương lai mang ý nghĩa mácxít mà chúng ta vừa phác hoạ như trên là khá hiển nhiên: trong thực tế, cái lộ trình chung cuộc của chủ nghĩa tư bản hiện thực đã không chấm dứt theo cái lôgích tối đa hoá, phân cực hoá như Marx đã hình dung. Chủ nghĩa tư bản đã không chết trên sự giàu sang của nó như một tất yếu mù quáng: mặc dù bản thân vẫn chứa đầy mâu thuẫn nhưng nó đã biết tự điều chỉnh để tồn tại. Giai cấp công nhân vẫn còn là những người làm thuê, bị “bàn tay vô hình” của cơ chế sản xuất tư bản chủ nghĩa làm cho đời sống bấp bênh và do đó vẫn phải tiến hành những cuộc “đấu tranh giai cấp” để cải tiến số phận; nhưng cái lớp người hiện thực ấy đã không trở thành những kẻ vô sản mất hết nhân tính riêng biệt, để từ đó tự sản sinh ra được cái ý thức về một sự giải thoát phổ biến, xây nên một vương quốc tự do mang lại nhân tính cho loài người như Marx đã suy đoán. Cũng vì thế mà cùng với thời gian, những dự kiến của Marx về tương lai ngày càng bị xem là những viễn tưởng mờ mịt.

Nhận ra tính chất tư biện và không tưởng trong lý luận của Marx là điều không mới trong giới nghiên cứu chủ nghĩa Marx từ trước đến nay. Tôi không có gì để tranh cãi với Hà Sĩ Phu ở điểm này. Nhưng vấn đề cần bàn luận ở đây chính là những luận cứ mà tác giả đưa ra để phê phán Marx: thay vì cố gắng đi vào tìm hiểu từ cái hệ thống suy luận nội tại của học thuyết Marx để chứng minh, tác giả lại dựa vào rất nhiều thứ không có trong Marx, không phải của Marx, những cái đã bị biến thái, bị ngộ nhận, từ rất nhiều nguồn khác nhau – quan trọng nhất là từ thứ ý thức hệ phản Marx trong chế độ mệnh danh “chủ nghĩa xã hội hiện thực” cộng với những công kích dễ dãi của các loại chủ nghĩa chống cộng ra đời trong cuộc Chiến tranh Lạnh trong thế kỷ trước nay vẫn còn tàn dư – qua đó xây dựng nên một thứ hình ảnh giả định về “chủ nghĩa Mác” để phê phán và làm cho sự phê phán ấy mất đi sự nghiêm chỉnh cần phải có.

Thí dụ như cái gọi là “chủ nghĩa duy vật” đã nhắc qua và được xem không phải là phải là cơ sở đặc trưng trong nhận thức luận của Marx, vì như chúng ta biết trong học thuyết Marx chỉ có cái biện chứng đối mặt với tha hoá để vượt qua tha hoá của con người, cái biện chứng ấy tự con người phải giải quyết lấy chứ không hề bị quy định, chi phối bởi một thứ gọi là “biện chứng tự nhiên” mang nội dung một thứ “bản thể” vật chất, sinh ra mọi hiện hữu, tạo ra mọi hiện tượng bằng những tác động của nó. Đọc những tác phẩm kinh điển mácxít, ai cũng biết việc chồng thêm cái “biện chứng khách quan” của vũ trụ ấy vào cái biện chứng xã hội của Marx chính là Engels, người đồng chí của Marx chứ không phải là ai khác. Cái gọi là biện chứng được đặt tên là duy vật và bị Engels hoá đó đích thực là thứ chủ nghĩa Marx đã bị cơ giới hoá, vật chất hoá, rất xa lạ với thứ chủ nghĩa Marx của Marx với cái biện chứng của một học thuyết nội tại về thế giới con người. Và tệ hơn nữa chính là điều này: thứ học thuyết Marx bị Engels hoá đó đã được Lenin bônsêvích hoá để khi có được chính quyền thì biến thành ý thức hệ chính thống của chế độ toàn trị xô viết.

Một thí dụ khác được tác giả (và rất nhiều người khác) tập trung khai thác coi như tối quan trọng, bao trùm tất cả, cần được phủ nhận triệt để do tính chất tai hại của nó, đó là khái niệm “chuyên chính vô sản” trong lý luận “đấu tranh giai cấp” của Marx. Những ai chẳng hiểu gì về Marx chỉ nghe thấy mấy chữ “chuyên chính” là giẫy nẩy lên ngay, nhất là sự chuyên chính ấy lại được ghép vào mấy chữ “vô sản” hoặc “xoá bỏ tư hữu”. Nhưng với những ai biết nghi ngờ những ngộ nhận quá hời hợt, dễ dãi ấy để tự mình tìm hiểu một cách nghiêm chỉnh ắt sẽ phải thấy khái niệm “chuyên chính vô sản” trong học thuyết của Marx mang một ý nghĩa triết học – chính trị riêng biệt: ít nhất không hề có nội dung đồng nghĩa với trấn áp, độc tài, sẵn sàng dùng thủ đoạn bạo lực và dối trá để thực hiện ý tưởng của mình. Nó giả định hàng loạt những điều kiện thực tế được Marx nêu ra để thực hiện mà nếu bỏ qua những điều kiện ấy thì tai hoạ cũng sẽ là tất yếu. Và một lần nữa người đem đến tai hoạ lại là Lenin.

Thật sự không phải Lenin không biết đến những điều kiện thực tế do Marx nêu ra cho cuộc cách mạng mệnh danh là vô sản. Ít nhất thì cũng ở mấy điểm sau đây: a) Nền sản xuất tư bản chủ nghĩa đã tạo ra được một cơ sở vật chất đồ sộ tập trung vào một số tập đoàn độc quyền mang tính xã hội nhưng lại bị quản lý bằng biện pháp chiếm hữu tư nhân cản trở sản xuất, b) Phương pháp cạnh tranh của cơ chế sản xuất tư bản chủ nghĩa đã tạo ra hiện tượng vô sản hoá làm cho hàng ngũ những người lao động trở thành đại đa số dân cư bị bóc lột cùng cực, c) Giai cấp công nhân đã trở thành giai cấp vô sản mất hoàn toàn nhân tính do đó đã tự mình nẩy sinh ra được cái ý thức thủ tiêu xã hội cũ để xây dựng xã hội mới không còn giai cấp, Những điều kiện ấy đã quy định ý nghĩa cho chủ trương chuyên chính của giai cấp vô sản trong thời kỳ quá độ: dùng biện pháp quyết liệt của cách mạng không cho xã hội cũ có điều kiện phục hồi. Công xã Paris 1871 là hình mẫu để Marx chứng minh những điều kiện đó về mặt chính trị: nhà nước đã nằm trong tay quần chúng với một nền dân chủ trực tiếp bảo đảm bằng chế độ bãi miễn nghiêm ngặt, tiền lương của viên chức nhà nước ngang bằng với tiền lương của công nhân viên, không thể có đặc quyền; quân đội nhà nghề được thay bằng chế độ toàn dân vũ trang không thể biến thành công cụ thống trị. Hình ảnh về cái công xã hiện đại đó được Marx biểu dương và khái quát hoá thành hình mẫu cho cuộc đổi đời những người lao động trên toàn thế giới có phải là một khả năng hiện thực hay không là điều không có gì chắc chắn để khẳng định (nhất là đặt nó vào cái viễn cảnh không tưởng của cái xã hội cộng đồng mácxít), nhưng tìm hiểu nó trong cái cấu trúc nội tại về lý luận của Marx, tính chất lôgích của nó là rất nhất quán.

Khi dựa vào hình mẫu đó để vận dụng vào Cách mạng Tháng 10, Lenin đã hiểu khá rõ rằng một nước Nga trung cổ, tiền tư bản chủ nghĩa hoàn toàn không có một điều kiện nào về kinh tế để tiến hành cuộc cách mạng mácxít. Nhưng ông cho rằng cuộc cách mạng ấy vẫn có thể thành công với hai giả định như sau: a) Khi chủ nghĩa tư bản phương Tây đã trở thành chủ nghĩa tư bản thế giới dưới hình thức thống trị đế quốc chủ nghĩa thì bất cứ một cuộc nổi dậy ở đâu, kể cả ở những vùng ngoại biên cũng có thể phát khởi thành cuộc bùng nổ toàn cầu, b) Cuộc nổi dậy ở nước Nga nếu chớp được thời cơ để thành công thì chỉ có ý nghĩa về phương diện chuyển đổi nhà nước, nhưng sẽ không thể gọi được là cuộc cách mạng vô sản đích thực nếu nó không được hỗ trợ bằng sự thành công của các cuộc cách mạng thật sự vô sản ở những nước phương Tây, nhờ sự lôi kéo của cuộc cách mạng mang tính phổ biến này nước Nga lạc hậu mới có thể hoà nhập vào trào lưu chung để tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không thông qua con đường tư bản. Thực tế cho chúng ta biết hai điều kiện ấy đã không hề xảy ra: thế giới không hề có cuộc bùng nổ tổng thể nào có thể làm sụp đổ chủ nghĩa tư bản toàn cầu dưới hình thức chủ nghĩa đế quốc (thực thể đế quốc không tất yếu đồng hoá với chủ nghĩa tư bản), cũng không có một cuộc cách mạng vô sản nào nổ ra ở một nước tư bản phương Tây vì giai cấp công nhân ở đây đã không trở thành vô sản theo nghĩa mácxít (chủ nghĩa tư bản sau khi Marx chết đã thay đổi). Trước những giả định mãi mãi là giả định ấy, cuộc cách mạng 1917 đã đi vào ngõ cụt về lý luận mácxít: sự thành công của cuộc cách mạng do Lenin lãnh đạo nhân danh vô sản ở nước Nga vì thế cũng là sự mở màn cho một mô hình chủ nghĩa xã hội phản mácxít ở những nước phương Đông đang tấp tểnh bước vào con đường hiện đại hoá.

  3. Chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa tư bản

 Hàng loạt những luận điểm phản mácxít nói trên đã được Lenin nêu ra nhân danh sự “vận dụng” vào hoàn cảnh đặc thù (sau này được “sáng tạo” thêm) để gò ép nước Nga xây dựng cho được cái tương lai của Marx trong một hoàn cảnh không có một điều kiện thực tế nào do Marx đặt ra để thực hiện.

  • Với Marx, cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa chỉ có thể có được khi về mặt kinh tế, chủ nghĩa tư bản đã phát triển tới đỉnh điểm về sản xuất và quản lý, cách mạng vô sản nổ ra chỉ là chấm dấu chấm để hoàn thành cho một chữ i. Trong khi đó với Lenin thì hoàn toàn ngược lại: do nước Nga chưa có chủ nghĩa tư bản phát triển nên khi đã có chính quyền rồi thì phải khởi đầu từ con số không: chấm cho chữ i cái chấm trước rồi “dưới sự lãnh đạo” của cái chấm ấy từ từ tạo ra cái thân cho nó.

  • Do sự thay đổi của chủ nghĩa tư bản phương Tây, giai cấp vô sản đã mất tính chất cách mạng (chỉ lo hoạt động nghiệp đoàn), không tự mình sản sinh ra được ý thức về chủ nghĩa xã hội như Marx giả định nên Lenin đã dựa theo luận điểm của Kautsky cho rằng ý thức xã hội chủ nghĩa là do những trí thức tư sản ở ngoài đưa vào. Khái niệm “Đảng tiền phong” là do Lenin đặt ra (chứ không phải Marx) để chỉ thị cái đội ngũ cách mạng nhà nghề trang bị bẳng cái ý thức “xã hội chủ nghĩa” có nguồn gốc ngoài giai cấp vô sản này để hoạt động, căn cứ vào đó giáo dục lại giai cấp vô sản để kiến tạo xã hội mới.
  • Do không có được những cuộc cách mạng vô sản ở những nước phát triển ở phương Tây nâng đỡ, cuộc cách mạng ở Nga đã mất hoàn toàn ý nghĩa quốc tế mácxít để trở thành một cuộc cách mạng địa phương, cục bộ, sau này có kéo theo một số nước khác vào để thành Quốc tế (Quốc tế thứ Ba) thì tính chất phổ biến và tiên tiến nhân danh Marx đã hoàn toàn bị loại bỏ và thay bằng tính chất ngoại biên, chậm tiến. Văn hoá phong kiến, tiền tư bản chủ nghĩa vẫn là cơ sở của xã hội, còn “chủ nghĩa xã hội” chỉ là ý chí và bảng hiệu.
  • Trong cái Quốc tế ấy, khái niệm chuyên chính vô sản theo nghĩa mácxít cũng đã bị đảo ngược thành thứ chuyên chính phi mácxít, phản mácxít. Nhà nước mệnh danh vô sản (có liên minh với nông dân) thực chất chỉ là nhà nước chuyên chế của Đảng, không tạm thời tồn tại để tiêu vong mà lại được tăng cường để kéo dài vĩnh viễn. Không còn xã hội công dân cũng không còn nhà nước hiểu theo nghĩa thông thường: tất cả đã bị cai quản, thống trị bởi một thực thể đặc biệt sinh ra từ cuộc cách mạng mạo danh Marx: một Đảng – Nhà nước toàn trị.

Cái “nghịch lý” căn bản về sự mâu thuẫn (đến quái dị) giữa lời nói và việc làm, giữa lý thuyết và thực hành, giữa ý muốn và hành động mà Hà Sĩ Phu nêu ra khi quan sát sự vận hành của cái thực tại gọi là “chủ nghĩa xã hội” ở Việt Nam, thật rất rõ ràng, không thể quy về cái tội tổ tông khởi xuất từ học thuyết Marx mà phải được lý giải từ sự vận dụng của cả một phong trào phản Marx bắt đầu từ cuộc cách mạng Tháng Mười của Lenin mà nội dung sâu xa của nó chính là sự phản ứng quyết liệt của cái thế giới ngoại vi bị chủ nghĩa tư bản thống trị bằng chính sách toàn cầu hoá của nó. Sự khác nhau giữa chủ nghĩa Marx và “chủ nghĩa Mác-Lênin” phải được đặt ra thật minh bạch thì mới có thể hiểu được sự chuyển động trong bản thân chủ nghĩa tư bản bắt đầu cuối thể kỷ 19 đầu thế kỷ 20: xoa dịu được (và cả giải quyết được) những căng thẳng của thời phát triển sơ kỳ xảy ra ở chính quốc và đẩy những căng thẳng ấy ra những vùng ngoại vi bằng chính sách đế quốc, thực dân, bóc lột siêu lợi nhuận. Liên minh những nước nghèo chống lại những nước giàu đi xâm lược và nô dịch, đó chính là cương lĩnh của Lenin về cuộc cách mạng vô sản cho những nước thuộc cái thế giới mà sau này người ta gọi là Thế giới Thứ ba nghèo khổ.

Lấy chủ nghĩa toàn trị trong mô hình của Lenin được Stalin và những người cộng sản phương Đông vận dụng như mục đích của quyền lực để đồng hoá với lý luận về cách mạng vô sản mácxít là không thoả đáng với Marx mà với ngay cả những người theo Marx về sau. Chẳng hạn như với Rosa Luxemburg hoặc Karl Kautsky trong Quốc tế II, những người mácxít chính thống cánh tả này, trong khi vẫn không từ bỏ những nguyên lý của Marx nhưng lại không xem khái niệm “chuyên chính vô sản là hòn đá tảng của chủ nghĩa Marx” như Lenin mà chính là ngược lại: sau khi Cách mạng Nga thành công chính họ là những người lên tiếng phê phán Lenin nhiều nhất về vấn đề này. Ấy là chúng ta chưa nóí đến Eduard Bernstein người đề xuất thứ “chủ nghĩa xét lại” lừng danh, điều chỉnh lại những nguyên lý của Marx trong điều kiện chủ nghĩa tư bản đã đổi thay. Điều đó có nghĩa là sau khi Marx chết, tư tưởng của ông đã sống đời sống của một học thuyết đã phân liệt thành nhiều xu hướng khác nhau mà chủ nghĩa Marx của Lenin chỉ là một, chứ không phải là tất cả. Không thấy tình trạng đã trở thành đa nguyên, đa dạng (nhiều khi đối chọi nhau) của học thuyết Marx để phân biệt cho được thế nào là chủ nghĩa Marx của Marx và chủ nghĩa cộng sản của những người theo Quốc tế III trong thế kỷ 20 tất sẽ dẫn đến những lầm lẫn hết sức trầm trọng về vai trò của học thuyết Marx đối với thế giới hiện đại.

Xem học thuyết Marx như là một sản phẩm của phương Tây, xuất hiện trong lòng chủ nghĩa tư bản xuất phát từ phương Tây, chúng ta dễ dàng nhận ra những phán đoán thiếu cơ sở trong nhận định của Hà Sĩ Phu coi bản chất tư tưởng của Marx là thuộc “dòng tư tưởng Phong kiến phục hưng, cộng với ảo tưởng Cộng sản nguyên thủy (hoặc ảo tưởng Nô lệ) trong cơn khủng hoảng tăng tốc của nền Văn minh Công nghiệp” (“Chia tay ý thức hệ”), không hiểu được rằng sự phê phán mác xít chính là cái bóng gắn liền với chủ nghĩa tư bản như một cấu trúc tự thân, chừng nào chủ nghĩa tư bản đó còn tồn tại với tất cả những mâu thuẫn phức tạp của nó. Chúng ta không nên quên rằng cái lôgích đi về xã hội tương lai của Marx chính là cái đà của một thứ chủ nghĩa tư bản tự tạo được năng lực của sự phát triển tích cực và khai hoá. Đọc những gì Engels diễn giảng về chủ nghĩa xã hội mácxít mệnh danh là “khoa học”, chúng ta thấy rõ điều đó: chính chủ nghĩa tư bản đã dọn đường cho cái thay thế nó ra đời.

Cũng không nên quên rằng cái lực lượng xã hội gọi là giai cấp vô sản có khả năng tạo ra cái thay thế ấy cũng chính là hậu quả hiện thực của chủ nghĩa tư bản trong việc tạo ra đống của cải đồ sộ của nó. Chính sự bóc lột vô độ thời tích tụ nguyên thuỷ, chính cái tình trạng những người lao động bị đẩy vào nghèo đói, mất nhân tính, sống bấp bênh không có ngày mai cùng với cơ chế cạnh tranh tàn khốc đặt lợi nhuận lên trên tất cả, đưa đến những thảm kịch văn hoá và môi trường… do chính chủ nghĩa tư bản tạo ra đã cung cấp dữ liệu hiện thực cho những phê phán của Marx. Không thể nào xem nhẹ ý nghĩa triệt để và hiển nhiên của những phê phán quyết liệt của Marx với cái phương thức sàn xuất biến con người thành công cụ đó, nhưng cũng không thể xem là không có cái tác dụng của những phản kháng nhân danh những người bị áp bức ấy đã làm cho chủ nghĩa tư bản trở nên đỡ dã man hơn, “văn minh” hơn, biết tự điều chỉnh để tìm đến những phương cách phát triển cân bằng hơn (biết sử dụng vai trò của nhà nước trong điều hành kinh tế, tạo ra chế độ an sinh xã hội để nâng cao đời sống công nhân, bảo vệ môi trường, phát triển văn hoá…). Nhờ Marx mà phương Tây biết nhận thức lại mình, điều đó cũng đã trở thành hiển nhiên với nhiều nhà tư tưởng của phương Tây, dù đó không phải là những người theo Marx.

Phân tích hệ thống tư tưởng của Marx ra nhiều thành phần cấu tạo, những nhà nghiên cứu nhận ra không ít những yếu tố lãng mạn của những xã hội cộng động thời tiền tư bản chủ nghĩa, những giấc mộng dai dẳng về một thế giới hoàn hảo của những nhà không tưởng thuộc mọi trường phái tôn giáo và xã hội, nhưng những thứ đó không hề đẩy lui và lấn lướt được cái mà người ta gọi là “hạt nhân cứng” trong tư duy của Marx, là cái niềm lạc quan của ông về con đường tiến hoá từ thấp đến cao của một nhân loại ngày càng tiến bộ, vốn cũng là niềm tin phổ biến của hầu hết những nhà tư tưởng “khai sáng” của thế kỷ 18 và 19: xác tín rằng lý trí và khoa học mãi mãi là động lực nền tảng có khả năng đưa loài người đến chỗ hợp nhất trong văn minh. Cái xã hội tương lai của Marx vì thế, tuy là không tưởng, nhưng lại là một xã hội không tưởng mang tính chất hậu tư bản chủ nghĩa, lấy nền từ một thứ chủ nghĩa tư bản hiện đại tạo ra được những tiềm năng tự đưa mình đến một trạng thái cao hơn.

Ngày nay mặc dù khi niềm tin về con đường “đi lên” ấy của nhân loại không còn được tiếp nhận với nhiều lạc quan lắm, do hậu quả của những cuộc chiến tranh kiểu đế quốc, xâm lược kiểu thực dân, phát xít, cùng với những đảo lộn khủng khiếp về các hệ giá trị cổ truyền, trước những thử thách của thực tế, chủ nghĩa Marx dần dà phơi bày tính chất viễn mơ của nó, nhất là sự ra đời đau đớn và sự sụp đổ thảm hại của cái thế giới phương Đông nhân danh Marx để đối đầu với phương Tây, chủ nghĩa Marx buộc phải thay đổi những kết luận của mình trước sự đổi thay của đời sống, nhưng nó vẫn chưa đánh mất hết sức mạnh của mình với tư cách là một ý hướng phê phán từ nền tảng mọi vấn đề, một triết lý mời gọi một nhân loại biết cảnh giác với những nguy cơ tự tạo ra những sức mạnh dẫn con người đến chỗ đánh mất bản thân. Marx đã chết nhưng cùng với những bất toàn mang tính cấu trúc của chủ nghĩa tư bản, những tư tưởng phê phán của Marx về chủ nghĩa tư bản sẽ không bao giờ mai một. Có vô số những thí dụ mà những ai muốn biết thì sẽ biết được dễ dàng, không cần dẫn ra ở đây.

***

 “Chủ nghĩa Mác-Lênin” và vấn đề canh tân dân tộc

1. Những nhược điểm truyền thống của người Việt Nam

Vấn đề tác giả đặt ra đã bắt đầu từ lâu, hơn một thế kỷ đã qua với phong trào Duy Tân do những nhà nho cấp tiến ảnh hưởng từ Tân thư Trung Hoa dẫn xuất. Trong suốt thời gian thuộc Pháp về sau, hiện tượng ấy cũng được tiếp nối trong giới trí thức, kể cả những người cộng sản, hoặc là để vận động cho những chủ trương hiện đại hoá theo kiểu phương Tây hoặc để cải tạo dân trí theo đường lối vô sản hoá. Ngày nay khi chế độ mệnh danh “xã hội chủ nghĩa” bắt đầu chấp nhận đi vào quy trình “đổi mới”, vấn đề này cũng đã được nhiều người (trong nước lẫn ngoài nước) khơi lại với những ý định chính trị văn hoá khác nhau, riêng với Hà Sĩ Phu thì mục đích mà chúng ta biết là rất minh bạch: từ giã chủ nghĩa “Mác-Lênin” để hội nhập vào cái dòng chảy văn minh của thế giới đương đại. Vấn đề nhìn lại bản sắc truyền thống dân tộc, qua sự phân tích của tác giả, đã mang nhiều điểm độc đáo, nhưng cũng có nhiều điều tuỳ tiện, khó thuyết phục.

Cũng như với “chủ nghĩa Mác-Lênin”, chuẩn mực tác giả dựa vào để phê phán những nhược điểm trong văn hoá cổ truyền của người Việt là nền Văn minh được tác giả coi là tiêu biểu cho Trí tuệ, Khoa học, Dân chủ, Nhân quyền thể hiện trong chế độ tư bản hiện đại. Dựa trên tiêu chuẩn ấy mà xét thì văn hoá cổ truyền của Việt Nam cho đến bây giờ vẫn giẵm chân trong cái nền văn hoá châu Á thời nông nghiệp thiếu năng động, thiếu duy lý, thiếu rành mạch, biểu hiện rất cụ thể cả trong chế độ cộng sản mệnh danh “tiên tiến” hiện nay. Trong sự nhận xét tổng quát ấy, có một điều được tác giả quan tâm đặc biệt, quan trọng đến mức coi đó là cái tệ hại nhất của dân tộc, khiến con dân Việt Nam chúng ta “không thể đi xa”, tự mình làm “mất quyền làm chủ xã hội” hoặc khả năng làm chủ có thể “bị diệt tận gốc”: ấy là cái sự kiện chúng ta là một dân tộc được tác giả xếp vào những dân tộc “không có Tư tưởng hay coi nhẹ Tư tưởng” (Thư gửi Đỗ Mạnh Tri) !

Tôi nghĩ chắc chắn tác giả không có ý muốn nói rằng đầu óc người Việt là trống rỗng. Điều đó hết sức vô lý. Cha ông ta đã chẳng mấy ngàn năm tụng niệm tư tưởng Khổng Mạnh, Lão Trang hay sao? Đảng cộng sản đã chẳng hò hét bao nhiêu năm cái gọi là “chủ nghĩa Mác-Lênin” sao? Chính quyền Ngô Đình Diệm chẳng từng coi là quốc giáo chủ nghĩa “Duy linh, Nhân vị” sao? Chính xác có lẽ tác giả muốn nói chúng ta không có tư tưởng độc lập. Nhưng thế nào là tư tưởng độc lập? Nếu cho rằng không độc lập có nghĩa là chỉ biết vay mượn nơi này một chút nơi kia một chút, đem bỏ vào một cái giỏ chiết trung rồi khi cần thì móc ra xài tuỳ tiện (kiểu Nho-Lão-Phật hoà đồng!) thì quả thật là như thế! Vậy thì phải làm gì mới có được cái gọi là Tư tưởng độc lập, nếu không tự mình sáng tạo ra được những thứ riêng biệt, độc đáo, trong trường hợp không xuất khẩu được cho các dân tộc khác thì cũng có thể tự hào đứng được ngang hàng với người ta!

Nếu như vậy thì chắc hẳn nhiều người sẽ thấy hơi … mệt! Sản xuất ra tư tưởng đâu phải giống như tạo ra bàn ghế, lúa gạo, ai làm cũng được. Có những dân tộc có thiên hướng tư duy trừu tượng và sản xuất ra được những triết gia lừng danh thì cũng có những dân tộc cứ nhất định không cần những thứ ấy thì người ta sẽ lấy lý do gì để giải thích nếu không xem đó là một chọn lựa (ý thức hay vô thức) mang tính cộng đồng? Trong khi đó thì tư tưởng lại không thuần là chuyện sản xuất mà còn làm ra những thứ được tác giả buộc phải “đúng”, phải hay hoặc phải mang tính khoa học. Mà như vậy thì lại càng … mệt hơn. Đâu phải lúc nào nhân loại cũng có được cái mà Karl Jaspers gọi là cái “Thời trục” (Axial Age) chỉ trong một thời gian không xa nhau lắm thế giới bỗng rộ lên hàng loạt những Khổng Tử, Lão tử, những Platon, Homer, Socrates… những Phật, những Chúa… và chiếm lĩnh ngay những đỉnh cao về tư tưởng để sau đó chỉ còn là lan toả và phổ cập … Trong những trường hợp đó hiện tượng “cớm nắng” (chữ của Nguyễn Kiến Giang), do những nền văn minh lớn tạo ra với những dân tộc khác (như hai nền văn minh Ấn Độ và Trung Hoa với Việt Nam) không phải là hiện tượng khó hiểu.

Nhưng xét đến cùng thì vấn đề tư tưởng đâu phải là một cái gì quá quan trọng có thể quyết định số phận một dân tộc. Có những dân tộc sản sinh ra được những vĩ nhân cống hiến cho loài người những hệ thống suy tưởng tuyệt vời, nhưng đâu phải những hệ thống ấy là khuôn vàng thước ngọc, khoa học, trí tuệ, không cần sàng lọc, thậm chí cần phải phủ nhận. Và những dân tộc đăng ký sở hữu những hệ thống tư tưởng ấy để phổ biến cho loài người đâu phải là cộng đồng người lúc nào cũng mẫu mực cho một đời sống có văn hoá đáng mơ ước. Tại sao một dân tộc như dân tộc Đức với những Beethoven, Hegel, Marx… lại có thể sản sinh ra được một Hitler và một Hitler phátxít lên cầm quyền bằng con đường tranh cử dân chủ? Tại sao dân tộc Trung Hoa với bao nhiêu nhà tư tưởng mà chúng ta phải tụng niệm một thời nay vẫn còn kính trọng lại có thể sinh ra cái nạn “phần thư khanh nho”, rồi sau này “cách mạng văn hoá” ? Stalin, Beria… chẳng lẽ không phải là cùng dân tộc với những Tolstoi, Dostoievsky ?

Vả lại, một dân tộc không sản sinh ra được những thứ tư tưởng như vậy thì chẳng lẽ lại không thể có được một đời sống ra hồn ? Những gì mình không có mình học của người khác thì đã sao ? Chẳng phải một trong những đặc tính của văn hoá là sự lan truyền bất chấp không gian, thời gian của nó ? Thiếu gì (có thể nói tuyệt đại đa số) các dân tộc không có một nhà tư tưởng nào mà vẫn tồn tại đường hoàng trong thế giới hiện đại, chẳng lẽ điều này phải chứng minh ? Nếu có gì cần phải nói thêm về việc này thì có lẽ nên nhìn qua cái quốc gia bé tí rất gần chúng ta là Singapore thì lại thấy câu chuyện không phải chỉ là như vậy: so với nhiều nước khác, trong lĩnh vực văn hoá tư tưởng và truyền thống, họ chẳng có gì để khoe cả nhưng lại đạt được một thành công kỳ diệu trong phát triển không thua bất cứ một nước phát triển nào trên thế giới ! Vấn đề văn minh, văn hoá, là một vấn đề phức tạp, liên hệ đến hàng loạt những yếu tố, trong đó vấn đề tư tưởng không tất yếu là quyết định.

Tôi thấy trong việc phê phán văn hoá truyền thống của tác giả có nhiều điều không ổn. Gọi là phê phán nhưng thực sự chỉ là đối chiếu về khái niệm để chỉ trích, thiếu hẳn những quy chiếu lịch sử: khi chỉ trích chủ nghĩa “Mác-Lênin” thì đem “dân chủ” đối chọi với “độc tài”, khi chỉ trích những nhược điểm của dân tộc về tư tưởng thì đem văn minh nông nghiệp trung cổ so với văn minh công nghiệp hiện đại. Kết quả không thể gọi là nghiên cứu, phát hiện được. Vì tất cả đều đương nhiên đã là như thế. Nhất là khi tác giả lại căn cứ vào những gì mình chỉ trích, coi đó là cái bản chất không thay đổi của một dân tộc. Theo tôi nghĩ chỉ thoả đáng khi sự phê phán về văn hoá truyền thống được đặt trong cái khung cảnh tổng thể với những đặc điểm về không gian và thời gian đã quy định nó, nếu có so sánh thì chỉ với những nền văn hoá cùng tính chất với nó. Đặt trong khung cảnh ấy, những cái hay và dở của văn hoá truyền thống sẽ hiện ra trong chính cái hệ quy chiếu cùng thời với nó. Phương pháp tìm hiểu này nhiều người nghiên cứu trong và ngoài nước đã thực hiện và đã phát hiện nhiều độc đáo về văn hoá truyền thống của Việt Nam. Tài liệu cũng đã có nhiều, không cần kể ra ở đây.

Do sự giao lưu và tác động qua nhiều hình thức giữa các dân tộc (hoà bình lẫn chiến tranh, bình đẳng lẫn nô dịch), văn hoá của một dân tộc cũng thay đổi theo những điều kiện sinh sống, có những yếu tố tiệm tiến nhưng cũng có những cái đột biến, có những cái tự nguyện nhưng cũng có những cái bị ép buộc. Không chú ý đầy đủ những chuyển động phức tạp và nhiều mặt (nhất là ở tầng sâu, chưa bộc lộ) của văn hoá Việt Nam và con người Việt Nam – ngay cả trong lĩnh vực tư duy chính trị, khoa học, tư tưởng mà tác giả đề cập – trong suốt một trăm năm qua khi Việt Nam tiếp xúc với rất nhiều nền văn hoá khác nhau trên thế giới, nhất là phương Tây, đặc biệt trong thời gian mở cửa từ “đổi mới” đến nay, mà lại cột chặt văn hoá Việt Nam vào cái khung nông nghiệp cũ cách đây cả nghìn năm để chỉ trích là không quan tâm đến tính chất lịch sử của những sự kiện, không thấy những chuyển động bên trong các sự kiện, như vậy không thể gọi được là “khoa học”, “khách quan”, “biện chứng” như tác giả mong mỏi.

 2. Tâm lý người Việt và chủ nghĩa “Mác-Lênin”

Những bất cập ấy cũng bộc lộ trong việc tác giả dựa vào những nhược điểm của tâm lý truyền thống để giải thích lý do tại sao dân tộc Việt Nam lại chịu “xài” chủ nghĩa “Mác-Lênin” từ bấy lâu nay. Theo lập luận của tác giả thì trong thời kỳ bị thực dân đô hộ, do người Việt Nam có truyền thống yêu nước sâu sắc nên thấy chủ nghĩa đó có phần thích hợp với nền văn hoá của mình, lại cung cấp được những biện pháp đấu tranh hiệu nghiệm nên đã chấp nhận và sử dụng để chống thực dân giành độc lập. Và chỉ có vậy thôi. Chẳng dính dáng gì đến cái mà những nhà ý thức hệ cộng sản gọi là “cách mạng xã hội” cả. Yêu nước là tình cảm, là sự hợp quần, điều này người Việt có thừa nhưng nó lại không cùng tính chất với điều tác giả gọi là “ý thức xã hội” vốn lại là cái mà người Việt rất kém. Ý thức xã hội đã như vậy thì không thể có được một cuộc cách mạng nào cả. Cho nên dù yêu nước theo kiểu “cách mạng cộng sản” thì cũng không thể là cách mạng được. Lập luận của tác giả có thể hiểu được khi chúng ta nhớ lại nhận xét ở trên của ông về chủ nghĩa “Mác-Lênin”: chủ nghĩa này chỉ là một “trào lưu phong kiến trá hình”. Nhưng cũng chính từ đó, cái phương pháp biện luận nghiêng về phần đối chiếu khái niệm một cách tư biện, trừu tượng đã bộc lộ thêm.

Cách biện luận ấy đi ngược lại những sự kiện thực tế đã xảy ra trong lịch sử. Nó đi ngược lại hoàn toàn ý nghĩa của các cuộc vận động đấu tranh mới của các phong trào yêu nước ở Việt Nam vào đầu thế kỷ 20 khi các phong trào yêu nước cũ theo kiểu Cần vương phục hồi Khổng Mạnh đã thất bại. Tất cả đều ra đời từ cái ý hướng chung của thời kỳ đó: làm mới tinh thần dân tộc, nâng cao dân trí, học hỏi văn minh với mục đích không hề lơi lỏng là giành lại chủ quyền cho cho đất nước. Ý hướng chung đó đã thể hiện rất rõ trong đường lối của ba nhân vật quan trọng cùng thời là Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và Nguyễn Ái Quốc. Chủ nghĩa cộng sản mà Nguyễn Ái Quốc chọn lựa cho Việt Nam cũng không đi ra ngoài cái xu thế chung đó, và cũng với mục đích là giải quyết một cách đồng bộ cái “hệ vấn đề” mà Việt Nam phải đối diện: độc lập dân tộc và hiện đại hoá xã hội. Hai mục tiêu này buộc phải gắn liền với nhau, không cái nào được tách rời vì một lẽ rất hiển nhiên: cả hai đều là điều cần có để dân tộc tạo ra vận mệnh mới cho mình. Không thể nói lòng yêu nước kiểu cộng sản của Nguyễn Ái Quốc chỉ là “phong kiến trá hình”, không liên hệ gì đến xu hướng thay đổi xã hội của Việt Nam trong thế kỷ 20.

Nếu nhớ lại đường lối đấu tranh của Đảng cộng sản trong thời kỳ chống thực dân chúng ta sẽ thấy rõ điều đó: cái gọi là học thuyết “Mác-Lênin” bấy giờ không dính dấp gì đến những biện pháp mà những nước “xã hội chủ nghĩa” đang thực hiện (chuyên chính vô sản, xoá bỏ tư hữu, công hữu hoá, tập thể hoá, …) mà chính là tìm cách “vận dụng” để tạo ra một cương lĩnh có những mục tiêu phù hợp với tất cả những người Việt Nam: thoát khỏi ách đô hộ của ngoại bang để xây dựng nên một đất nước hiện đại, một cuộc sống tự do, dân chủ, theo chuẩn mực của thế giới văn minh mà mọi người có thể hình dung ra một cách bình thường. Đảng cộng sản hiểu rõ nguyện vọng chung đó của dân tộc cho nên đường lối đề ra bấy giờ đã được Đảng mệnh danh là “cách mạng dân tộc và dân chủ”, một hình thức chuyển đổi xã hội theo kiểu dân chủ tư sản dân quyền do Tôn Trung Sơn mở ra cho châu Á. Và chính từ cương lĩnh ấy Đảng cộng sản tạo ra được sự đồng thuận âm thầm của toàn xã hội để vượt qua rất nhiều khó khăn, cuối cùng thành công. Những thủ thuật tổ chức đấu tranh học được từ Lenin nếu không được đặt trên những mục tiêu thực tế đó thì cũng thành vô ích.

Trong cuộc cách mạng ấy, cái gọi là “chủ nghĩa Mác-Lênin” chỉ là vấn đề trong nội bộ Đảng chứ không phải là của dân tộc. Chủ nghĩa này chỉ thành vấn đề với dân tộc khi cuộc chiến tranh giải phóng chấm dứt, Đảng cộng sản theo lý luận của “Mác-Lênin” cho là đã hoàn thành giai đoạn “cách mạng dân tộc dân chủ”, chuyển ngay sang công cuộc xây dựng xã hội mới (không thông qua chủ nghĩa tư bản) với những biện pháp mang thẳng về từ những nước “anh em” Liên Xô, Trung Quốc. Và đó mới thật sự là thứ chủ nghĩa “Mác-Lênin ” đích thực theo cái nghĩa mà chúng ta đã biết khi nhắc đến cuộc Cách mạng Tháng mười Nga “tiên thiên bất túc”: một cuộc cách mạng mang những nguyên lý của Marx ra thực hiện nhưng đã đi ngược lại hoàn toàn cái mô hình “xã hội cộng đồng chủ nghĩa” do Marx vạch ra cho tương lai. Và cũng từ đó trở đi những phức tạp, khó khăn, những dối trá ngược ngạo, những “nghịch lý” mới nẩy sinh, đúng như những nhận xét của tác giả.

Nhưng biện luận của tác giả lại không nhất quán. Từ một cách nhìn đã thành quen, tác giả vẫn dựa vào cái não trạng nông nghiệp kiểu châu Á của người Việt nói chung để cho rằng người chịu trách nhiệm những những tệ hại trên đây thật sự vẫn thuộc về cả một cộng đồng gọi là dân tộc Việt Nam mà cấu tạo của nó vừa bao gồm cả Đảng cầm quyền lẫn những người bị Đảng cai trị, hai bên cấu kết với nhau trong một cuộc chơi lùng nhùng như cùng đi trong một vũng bùn nhão nhẹt. Phần Đảng cầm quyền thì quá rõ: khi thấy những biện pháp giáo điều có nguy cơ dẫn tới sự sụp đổ của chế độ , không thể không điều chỉnh đường lối, nhưng vẫn lươn lẹo đưa ra các thứ lý lẽ nguỵ biện, để thực hành một chính sách thay đổi nửa vời chỉ cốt duy trì quyền lực cho bè phái.

Với những kẻ bị trị thì cũng vậy: cứ nhởn nhơ lo đi kiếm ăn vô tư và vui vẻ “người thì mê, người thì say, người thì điếc, người thì giả điếc” đồng loã với thối nát, xấu xa, không khác gì tự giam vào một cái “cái hũ định mệnh” do ông Trời đã tạo ra cho mình ! Kết quả là tuy có được một số hiệu quả kinh tế nhưng lại đưa dân tộc vào tình trạng xuống cấp ảm đạm về văn hoá và nhân cách, cản đường hội nhập nhanh chóng và đàng hoàng vào dòng chảy dân chủ, nhân quyền và pháp trị của loài người trong Kỷ nguyên Tin học. Kết luận của tác giả về dân tộc Việt vì vậy rất thảm hại. Một dân tộc vì “quá tinh khôn”, hay chơi trò “láu cá”, “khôn vặt” nên suốt quá trình lịch sử đã tạo cho mình một đặc tính cố hữu là “lúc nào cũng chọn nhầm đường” và cứ “tiếp tục tiến hoá theo cách chọn nhầm đường ấy” ; ghê hơn nữa, giống như một loài “ký sinh” ăn bám “chỉ cần chậm đi một nhịp và biết làm xiếc, như một con ve con bét bám vào cổ của chúa sơn lâm” để tiến vào thế giới văn minh !

Tính chất tư biện, đi ngược thực tế cũng bộc lộ trong cái biện luận của tác giả : sau khi đồng hoá Marx với Lenin bây giờ thì đồng hoá nhân dân bị trị với nhà nước thống trị, cho cả hai vào một giỏ có chung một thái độ ứng xử, gọi là “dân tộc”. Thực tế ra sao ai cũng biết : đại đa số người Việt, dựa vào tác giả mà nói, vốn thực tế nên rất ít quan tâm đến cái gọi là chủ nghĩa này nọ. Cái quan trọng của họ là sống và được sống từ từ ngày một khá hơn. Trước đây họ ủng hộ Đảng cộng sản không phải vì Đảng có “chủ nghĩa Mác-Lê bách chiến bách thắng” mà chỉ vì Đảng giương được ngọn cờ chống xâm lăng để kiến tạo lại một đất nước mới. Nay Đảng đem cái thứ “chủ nghĩa Mác-Lênin” ấy ra kiến tạo nhưng lại làm cho đất nước lụn bại, đời sống tệ hại, họ chẳng hiểu “Mác-Lênin” là gì để phê bình chỉ trích, mà chỉ sử dụng cái vũ khí quen thuộc cha ông đã để lại mà tuỳ nghi hành động : khi yếu thì cười ruồi để tẩy chay hoặc âm thầm làm ngược lại, khi mạnh lên một chút thì ra mặt thách thức, cần thiết thì mang ảnh … Hồ Chí Minh đi biểu tình, không kém quyết liệt, dữ dằn, theo cái cách của mình, chẳng có gì gọi là “láu cá” cả. Họ không đồng loã với nhà nước dán nhãn “Mác-Lênin” để chia chác đô la mà chỉ tuỳ cơ ứng biến, tiến lùi, từng bước đòi lại những gì đã mất với hy vọng dành được chút gì để lại cho con cháu. Không có gì đáng gọi là cao vời, “khoa học”, “trí tuệ”, “đầy ắp tư tưởng”, nhưng lại khá thiết thực, rất khó gọi là lạc quan, nhưng cũng chẳng có gì để quá bi quan. [Hãy đọc lại những ý kiến của Lê Hồng Hà xuất hiện gần đây để thấy “nhân dân ta” đã đẩy lùi cái gọi là “tư tưởng Mác-Lênin” như thế nào].

 3. Thoát khỏi vũng lầy ?

Có thể tác giả sẽ cho rằng những phân tích của ông không phải là một thứ chỉ trích bi quan về dân tộc mình mà chỉ là một sự phản tỉnh, diễn đạt có hơi cuờng điệu, gay gắt thì cũng chỉ xuất phát từ nỗi mong mỏi đất nước mau thoát ra khỏi cái vũng lầy trì trệ để có thể bước nhanh lên con đường văn minh trí tuệ của loài người. Chúng ta chia sẻ những ưu tư, những dằn vặt của ông trước sự xuống cấp về văn hoá của xã hội hiện nay và hiểu được cái khát khao của ông muốn đem vào cuộc sống một cái gì có thể gọi là “tử tế” hơn cho những gì mà chúng ta đang có. Nhưng khi phân tích một cách có hệ thống những gì tác giả viết, tôi thấy, như đã nói qua ở trên, cách xới lên sự kiện, lý giải vấn đề của ông đã quá nghiêng về phần đối chiếu kiểu lôgích hình thức, không có cơ sở trong thực tế, nhất là lại được diễn đạt bằng một lối viết có tính chất cường điệu, đả kích, châm chọc, đầy cảm tính kiểu “văn nghệ” nên không có đủ sự khách quan, chừng mực để được xem là những suy tưởng chính luận nghiêm chỉnh đáng mong muốn.

Có thể nóí tất cả những bất cập trong lập luận của tác giả đều bắt nguồn từ cái cách nhìn về dân tộc mình không phải như một sức sống của một cộng đồng, dù nhỏ bé, đầy khuyết tật nhưng đã tự vượt qua bản thân nhiều lần để tồn tại với một vận mệnh riêng biệt, mà trái lại, tác giả lại đi mượn một hệ giá trị ngoại tại, coi đó như chuẩn mực hoàn mỹ, tập trung được những tính chất tốt đẹp cao nhất của quá trình tiến bộ của loài người, đứng trên đỉnh cao đó để nhìn xuống và thấy dân tộc mình lè tè như một anh lùn. Có lẽ không nên nói đến chuyện tự ti hay tự tôn ở đây, bởi vì với tác giả, mọi thứ rút lại ở đây chỉ là một cách tiếp cận cường điệu về những nhược điểm của bản thân dân tộc, đem những nhược điểm ấy so với những cái cao vời của một chân trời khác, cái cao vời này lại được tưởng tượng phóng to cho thành đỉnh cao của mọi giá trị tốt đẹp, vì thế đã làm cái tệ hại của bản thân trở nên tệ hại hơn so với cái tệ hại mình vốn có.

Một lối nhìn về dân tộc như vậy không thể nào dẫn tới canh tân được vì cái cốt tuỷ của cả nền văn hoá truyền thống của một cộng đồng đã được quy về hình ảnh một bãi lầy nhão nhẹt, lặn ngụp trong cái bãi lầy ấy là những con người vừa hể hả lợi dụng nhau, lại vừa vui vẻ đấu đá nhau. Trong tình trạng ấy, tác giả giao cho những người trí thức vai trò thức tỉnh để làm cho tốt hơn những cái đang có. Nhưng cái tốt ấy sẽ có ý nghĩa gì trong cái bãi lầy ấy nếu không phải chỉ là một bông hoa chìm nghỉm trong một bãi lầy ? Theo cái đà chỉ trích của mình, tác giả quên hẳn rằng sức mạnh của trí thức là sự tiêm thêm sinh lực cho cái vốn có của dân tộc, để dân tộc có thể trở nên sáng suốt hơn, trí tuệ hơn chứ không phài là đem những thứ trí tuệ sáng suốt cao xa ra răn dạy cái dân tộc mà mình đã giả định về cái truyền thống quá tệ hại của nó. Với một dân tộc mà bản chất đã như vậy thì nó chỉ xứng đáng với những lời mắng mỏ, đay nghiến chứ không thể canh tân được, bởi vì mọi canh tân trong một môi trường tinh thần như vậy đều trở nên vô nghĩa, vô ích.

Tôi có cảm giác như trong biện luận tác giả đã khởi đầu từ một ý tưởng nào đó được cho là đúng, rồi cứ thế mà đẩy đến tận cùng hậu quả, như bấm một cái nút cho một chiếc xe tự động chạy trên một đường ray giả định, cứ thế càn lướt mà đi. Với một lộ trình giả tưởng như vậy thì hai vấn nạn sau đây sẽ xảy ra tất yếu. Nếu gặp những phản biện cục bộ hiển nhiên trong thực tế, tác giả sẽ phải buộc lòng xuề xoà thừa nhận, cố ý quên đi những gì mình đã nói trước đó và như vậy đã tự đẩy mình vào những mâu thuẫn không khắc phục được (chủ nghĩa Mác-Lenin là ý thức hệ phong kiến trá hình không có giá trị canh tân nhưng Hồ Chí Minh người mang ý thức hệ ấy về cho Việt Nam thì vẫn có thể dạy người Việt Nam về sự canh tân). Còn nếu gặp những phủ định tổng thể của toàn xã hội thì tác giả không biết đưa ra lý lẽ gì khác hơn là trở lại hình ảnh bãi lầy của những kẻ láu cá vặt, không có tư tưởng để cho rằng trước thực tại đó những trí thức sở đắc được những tư tưởng độc đáo không thể nào tránh khỏi phải chịu số phận của những kẻ cô đơn !

Trong bài viết gần đây nhất của tác giả – Tư tưởng và Dân trí là nền móng của xã hội – , ngôn ngữ đỡ gay gắt hơn so với trước, ngoài việc lặp lại toàn bộ những bất cập, sai lầm cũ, tác giả đã dẫn ra trường hợp Phan Châu Trinh để chứng minh cho nỗi “cô đơn” của một trí tuệ thiên tài trong một bãi lầy như vậy. Tác giả viết: “Phan Châu Trinh lo cho dân trí của dân tộc này, nhưng chưa kịp làm cho dân trí trưởng thành thì dân trí đã gạt cụ ra bên lề lịch sử (mặc dù vẫn kính trọng cụ nhưng kính nhi viễn chi thôi, chỉ “cung kính” chứ không “tòng mệnh”, không đi theo đường)” và làm cho chúng ta cảm thương Phan Châu Trinh không biết chừng nào! Người Việt Nam quả thật ngu ngốc hết mực! Nhưng sự thực đâu phải là vậy. Phan Châu Trinh không cô đơn. Ai cũng thấy nhà chí sĩ này nói đúng, ai cũng mến yêu ông. Chỉ có một điều khó khăn là nghe ông nhưng lại không biết làm gì để thực hiện những ý tưởng ông vạch ra trước cái “hệ vấn đề” mà đất nước phải đối mặt vào lúc bấy giờ.

Những gì mạnh nhất trong đuờng lối của ông, Phan Châu Trinh đã thực hiện trong hoạt động của phong trào Duy Tân trong nước một cách công khai, nhưng đã bị thực dân thẳng tay trừng trị (cho đến mãi về sau vẫn không được cho phép lập lại). Từ Côn Đảo trở về, ông xin sang Pháp, bị theo dõi, o ép nên những hoạt động chủ yếu của ông vẫn giới hạn trong những vận động hợp pháp, nghiêng hẳn về phần giáo dục tuyên truyền: ngoài một số hội đoàn ái hữu và cùng với Nguyễn Ái Quốc vận động độc lập cho Việt Nam gửi Hoà hội Versailles, ông không hề lập ra một đảng chính trị nào làm dấy lên được một phong trào hành động hợp nhất ý chí của toàn dân. Vì thế dù có tán thành các chủ trương, học tập văn minh, nâng cao dân trí của ông, người Việt bấy giờ đã không biết làm gì hơn là phải tự mình xoay sở bằng nhiều cách để thực hiện, trong đó có phương thức ôn hoà nhất, cải lương nhất, dễ thực hiện nhất là con đường “Pháp Việt đề huề” do Phạm Quỳnh đề xuất (sau đó còn nhiều hình thức tương tự khác) để học tập văn minh phương Tây. Chỉ xét về mặt văn hoá thôi, cách thức này không phải là không thiết thực.

Nhưng nếu cách thức đó lại được xem là thoả hiệp về mặt chính trị (vì nó quá gắn bó với thực dân) thì người ta vẫn có thể tìm thấy một cái thay thế để theo là ngả sang con đường canh tân theo kiểu cộng sản của Nguyễn Ái Quốc. Trừ chính quyền thực dân liệt Nguyễn Ái Quốc vào hàng ngũ “khủng bố”, “nổi loạn”, với đa số những người Việt Nam yêu nước bấy giờ, con đường này thật ra chẳng có gì đáng chê trách: cũng là một tập thể những người yêu nước, nhưng Đảng cộng sản đã tỏ ra thực tế hơn trong tranh đấu, với một chương trình hành động chống thực dân xây dựng lại đất nước theo những chuẩn mực bình thường, phương pháp tổ chức lại chặt chẽ, hoạt động linh hoạt, hướng về những thành phần đông đảo của dân tộc để vận động… Vì vậy thật là hồ đồ khi tác giả nhận định rằng khi đi theo Nguyễn Ái Quốc, người Việt Nam đã lại tiếp tục “chọn lầm đường” vì đã bỏ Phan Châu Trinh “cô đơn” với chủ trương ôn hoà, dân chủ, hợp pháp, trí tuệ của ông để chạy theo một thứ chủ nghĩa sắt máu, bạo ngược mà bản chất hành động đã thể hiện trong khẩu hiệu “Trí phú địa hào, đào tận gốc trốc tận rễ”, mở miệng ra là “thề phanh thây uống máu quân thù”!

Bất chấp thời điểm, bất chấp thực tế, một lần nữa tác giả đã coi việc chọn lựa một tư tưởng chính trị giống như việc chọn hàng ngoài chợ, tuỳ thuộc hoàn toàn vào ý chí của con người, không cần quan tâm đến điều kiện thực hiện! Một thứ biện luận như vậy đã chứng minh thêm rằng cái lối tư duy của tác giả chỉ là một lối nói cốt cho lấy được để bảo vệ cho lấy được cái thái độ rất tuỳ tiện trong nhận định về chính trị của mình : muốn khen (“Mác-Lênin”, Hồ Chí Minh…) thì tìm mọi cách để khen (kể cả những cái không đúng) nhưng muốn phủ nhận thì sẽ tìm mọi cách để phủ nhận (kể cả cái tưởng tượng ra). Ấy là không nói đến việc tác giả phạm thêm một sai lầm từng vấp phải, lần này liều lượng được tăng thêm: coi dân tộc Việt Nam chẳng những tệ hại vì không có tư tưởng mà còn là một tộc người rất sùng bái bạo lực sắt máu nữa ! Đề nghị tác giả đọc lại văn học cổ điển Việt Nam và nghiên cứu lại con đường Nam tiến của cái cộng đồng người mà tác giả gọi là dân tộc, sau đó trả lại những chữ “đào tận gốc…” và “phanh thây uống máu …” cho những người cụ thể đã tạo ra chúng, cùng với cái hoàn cảnh xuất hiện cụ thể của chúng, để thấy rằng mình đã sai lầm đến như thế nào.

  ***

Căn cứ vào những gì tác giả biện luận như đã phân tích ở trên, tôi thấy điều được ông gọi là “lối ra” cho cuộc canh tân dân trí hiện nay chẳng có gì gọi được là rõ rệt cả. Tất cả vẫn chìm ngập trong cái bãi lầy không có đường thoát. Theo ý kiến của tác giả, với một nhà nước láu cá và lươn lẹo như đã nói thì trông cậy vào sự đổi thay đàng hoàng minh bạch của nó là chuyện mò kim đáy biển.

Còn với cái dân tộc như dân Việt mà “môi trường lý tưởng” là cúi đầu xuống những chuyện kiếm ăn tầm thường, não bộ ngày càng teo tóp thì chẳng nhà nước nào lại dại mà ban bố cho họ cái gọi là tự do. Tất cả trông vào mấy anh trí thức thì lèo tèo, họ chỉ có mấy mạng, nói năng cao xa mấy đi nữa số phận cũng không khác gì Phan Châu Trinh tài ba bị dân tộc cho ra rìa!

Bởi thế khi nghe tác giả nói về cái món võ mà ông gọi là “hiệp khí đạo” được mô tả “giống như sự mềm yếu xin xỏ” nhưng thực chất là cái thủ thuật “lợi dụng sự cầu hoà ” để “tranh thủ nâng cao dân trí, tự lập tự cường, nâng trình độ văn minh của dân mình lên” rồi sau đó mới tính chuyện này chuyện nọ, tôi không thể nào không bắt chước một ai đó kết luận rằng cái chiến lược canh tân của tác giả rút cục lại là sử dụng “cù nhầy” để ứng phó với “cù nhầy”!

Với chiến lược ấy, ông vẫn “lạc quan” và nói: dù sao thì “mọi thứ vẫn cứ túc tắc đi lên, chẳng có ai làm sao cả. Mọi thứ rồi sẽ có hết, xin đừng lo, thiếu chăng chỉ thiếu một sự TỬ TẾ”. Vấn đề canh tân dân tộc rút lại chỉ là một bài học luân lý như vậy sao? Nhưng về chuyện này tác giả lại nói thêm: do tính cách dân tộc Việt Nam rất giống cái mớ tài sản trên một cỗ xe đi vào “cái đường ray đã được định hình từ thực tiễn mấy nghìn năm” rồi cho nên “muốn thay đổi quỹ đạo ấy chắc không thể ít hơn một hai thế kỷ”.

Một đến hai “trăm năm cô đơn” ! Tôi hiểu được ý nghĩa của hai chữ “lạc quan” có vẻ mỉa mai của tác giả. Vả cả thái độ tự trách đau đớn nữa. Nhưng tôi nghĩ và đã trình bày nhiều lần trong bài viết này, đó chỉ là do cái lôgích tư biện của ông tạo ra thôi – cái lôgích của hiện thực không phải là như vậy. Cái “bãi lầy” mà dân tộc đang vùng vẫy thoát ra không quá “nhão nhẹt” như ông tưởng. Và cái lôgích về canh tân cũng không quá “cù nhầy” như ông giả định. Một cái nhìn khách quan về đất nước hiện nay là điều thật sự cần thiết, đúng như tác giả đã mong mỏi.

Sài Gòn, 16.6.2007

LỮ PHƯƠNG

@diendan.org