Đa nguyên ở Việt Nam – nên hay không nên?

6.3.2006
Quang Linh
Việt Nam có nên chọn con đường đa nguyên chính trị hay không?

Gần đây, trong những bài viết góp ý cho báo cáo chính trị của Đại hội Đảng lần thứ X đăng trên các trang web trong và ngoài nước, một số người cho rằng Việt Nam nên thực hiện Đổi mới II theo hướng chấp nhận hệ thống đa nguyên về mặt chính trị (bài viết của ông Nguyễn Trung trên VietNamNet, bài viết của TS. Nguyễn Quang A trên talawas). Theo tôi, chọn con đường đa nguyên cho Việt Nam tại thời điểm này là một việc làm phiêu lưu, bởi vì nó tiềm tàng nguy cơ làm cho Việt Nam mất sự ổn định về mặt chính trị – xã hội và bỏ lỡ thời cơ phát triển kinh tế và thực hiện các cải cách dân sinh khác. Vì sao như vậy?
1.
Trước hết tôi cho rằng chúng ta không thể lấy lý thuyết và thực tiễn chính trị của các nước châu Âu (Anh, Pháp, Ý, Thụy Điển, Đan Mạch, Na Uy…) hay Mỹ để áp dụng cho Việt Nam, bởi vì các nước đó có hoàn cảnh lịch sử-xã hội khác xa với Việt Nam. Xét về đặc điểm xã hội, đa số các nước châu Âu đều không phải là các nước đa dân tộc, đa văn hoá, đa tôn giáo, vì vậy các mâu thuẫn xã hội ít phức tạp; xét về mặt lịch sử, hệ thống chính trị đa nguyên ở các nước đó đã xuất hiện cách đây hàng trăm năm và đã trải qua những thời kỳ sóng gió để đạt được trình độ như ngày nay. Với Mỹ, mặc dù là một nước đa dân tộc đa văn hoá nhưng trong đó người da trắng gốc Âu vẫn chiếm đa số (khoảng 75%), Thiên Chúa giáo vẫn là tôn giáo chính (85%), và nước Mỹ cũng đã trải qua hàng trăm năm để phát triển và hoàn thiện hệ thống chính trị lưỡng đảng của mình.
Chúng ta cũng không thể bắt chước máy móc con đường của các nước Đông Âu (Ba Lan, Hungari, Tiệp, Nga…) để áp dụng cho Việt Nam, bởi vì mặc dù các nước trên đã một thời là xã hội chủ nghĩa như Việt Nam, nhưng đặc điểm xã hội, lịch sử và trình độ phát triển của các nước đó cũng khác xa với Việt Nam. Về mặt xã hội, các nước này cũng không phải là các nước đa dân tộc, đa tôn giáo, và không có các mâu thuẫn gay gắt do lịch sử để lại như Việt Nam (tại thời điểm những năm 90, phần lớn công dân của các nước này là các thế hệ sinh sau chiến tranh), trình độ kinh tế, trình độ dân trí của các nước đó tại thời điểm những năm 90 của thế kỷ XX cũng phát triển cao hơn Việt Nam hiện nay. Hơn nữa, thay vì thay đổi hoàn toàn, nếu các nước trên duy trì được hệ thống cũ (với những cải biến nhất định) để đảm bảo sự ổn định về mặt chính trị đồng thời với việc mở cửa về mặt kinh tế-xã hội thì rất có thể các thành tựu mà họ đạt được còn lớn hơn nhiều và tránh được những cái giá mà nhiều nước đã gánh chịu trong 15 năm qua (chia rẽ, nội chiến, gia tăng sự bất bình đẳng).
Chúng ta cũng không thể lấy kinh nghiệm của Cămpuchia vì sản phẩm đa nguyên của Cămpuchia ra đời do những nguyên nhân lịch sử nhất định: tại thời điểm 1990, ở Cămpuchia có 2 lực lượng chính trị đối kháng kịch liệt (Đảng Nhân dân Cách mạng Cămpuchia có Việt Nam trợ lực, Liên minh Khmer đỏ + Sihanouk + Son Sann do Mỹ & Trung Quốc trợ giúp) và sự ra đời chế độ đa nguyên hiện nay là một thoả hiệp chính trị có lý do lịch sử. Hơn nữa, mặc dù là đa nguyên chính trị nhưng tình hình chính trị, kinh tế, xã hội hiện tại của Cămpuchia không hơn gì Việt Nam, thậm chí thua kém về nhiều mặt (kém ổn định hơn về chính trị, tăng trưởng kinh tế thấp (trong 2 năm 2004-05, chỉ tăng trưởng 3,5-4%), tệ nạn tham nhũng cũng khủng khiếp…). Hơn nữa, dù sao Cămpuchia cũng là một nước nhỏ (10 triệu dân), không phức tạp về mặt dân tộc (gần 100% là người Khmer), tôn giáo (gần 100% là đạo Phật) và xã hội (tất cả đều thừa nhận quyền lực của nhà vua).
Chúng ta có thể lấy kinh nghiệm của Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore, Malaysia… nhưng nên lưu ý là các nước đó có đặc điểm dân tộc, xã hội, lịch sử khác Việt Nam khá nhiều: ngoại trừ Malaysia, các nước còn lại đều có một dân tộc đa số và một tôn giáo gần như tuyệt đối. Hơn nữa, thời kỳ phát triển nhất của của các nước đó trong thế kỷ XX lại gắn liền với giai đoạn gần như độc quyền về mặt chính trị của một nhà độc tài hoặc một đảng độc quyền, chứ không phải là đa nguyên về mặt chính trị. Vấn đề này đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập, nên tôi xin phép không đi sâu.
2.
Chúng ta hãy lấy thực tiễn và kinh nghiệm đa nguyên của các nước có hoàn cảnh xã hội, lịch sử… tương tự như Việt Nam để phân tích, so sánh và rút ra kết luận cần thiết là có nên lựa chọn con đường đa nguyên chính trị Việt Nam ở thời điểm hiện nay hay không? Đó là những nước nào? Theo tôi, đó là Philippin, Indonesia, Myanmar, Thái Lan (ở Đông Nam Á), Pakistan, Bangladesh, Sri Lanca (ở Nam Á), Peru, Bolivia (Nam Mỹ). Xét về mặt xã hội, lịch sử, địa lý các nước này có những đặc điểm tương tự với Việt Nam như sau:
Về mặt xã hội, đây đều là những nước khá đông dân (hầu hết trên 50 triệu người), đa dân tộc, đa tôn giáo và có các mâu thuẫn xã hội (dân tộc, tôn giáo, giai cấp) rất phức tạp do lịch sử để lại… mặc dù biểu hiện ở mỗi nước có những sự khác biệt nhất định.
Về mặt lịch sử đây đều là những nước thuộc địa cũ của phương Tây, mới giành được độc lập từ năm 1945 trở lại đây, và xuất phát điểm khi giành được độc lập đều là những nước rất nghèo.
Về mặt địa lý: đây đều là các nước có diện tích nhỏ nhưng địa hình phức tạp, không thuận tiện về mặt giao thông và dễ dàng bị chia cắt (Philippin và Indonesia có nhiều đảo, Pakistan nhiều đồi núi, địa hình hiểm trở; Việt Nam dài nhưng hẹp, có nhiều đồi núi; Bangladesh thì quá trũng, thường xuyên bị úng lụt).
Tuy nhiên, khác với Việt Nam, sau khi giành được độc lập, các nước trên không trải qua các cuộc chiến tranh khốc liệt, kéo dài, và đặc biệt là không đi theo con đường xã hội chủ nghĩa mà đều xây dựng nhà nước theo chế độ cộng hoà với hiến pháp dân chủ (tam quyền phân lập) và đa nguyên về mặt chính trị (đa đảng), không có nước nào xây dựng hiến pháp theo chế độ cộng sản, độc tài hay quân chủ. Sự xuất hiện các nhà độc tài hay các chính quyền quân sự lâm thời ở các nước này trong một giai đoạn lịch sử nào đó thực ra chỉ là hệ quả của sự tranh giành quyền lực giữa các lực lượng đối lập trong hệ thống đa nguyên ở những thời điểm khủng khoảng về chính trị và bất ổn về xã hội (sẽ phân tích ở sau). Vậy chúng ta xem các nước đó đã phát triển như thế nào?
Ở Đông Nam Á, Philippin và Indonesia giành được độc lập gần như đồng thời với Việt Nam (Indonesia 1945, Philipin 1946), và từ đó đến nay gần như không có chiến tranh với nước ngoài. Như vậy họ đã giành đuợc độc lập 60 năm nay, cũng đi theo quỹ đạo của Mỹ và phương Tây từ đó, và cũng xây dựng hệ thống chính trị theo mô hình đa nguyên từ đó (mặc dù có những giai đoạn do hệ quả của hệ thống đa nguyên chính trị đã xuất hiện các nhà độc tài và chính quyền quân sự), nhưng cho đến nay về kinh tế xã hội họ không hơn Việt Nam là bao nhiêu thậm chí nhiều mặt còn sút kém. Về kinh tế, theo thống kê hiện nay (CIA World FactBook 2005), GDP/người theo sức mua của Indonesia (3700 USD) chỉ hơn Việt Nam (3000 USD) 1,2 lần, còn Philippin (5100 USD) hơn Việt Nam 1,7 lần, trong khi đó thì vào năm 1990 thì tỷ lệ này là 2 lần (với Indonesia) và ba lần (với Philippin). Còn nếu tính theo HDI – chỉ số phát triển con người nói chung (cả về kinh tế, văn hoá, sức khỏe…) thì năm 2005 Việt nam (với 0.704 ở vị trí 108/177 nước), mặc dù còn dưới Philippin (0.697, 87/177) nhưng trên Indonesia (0.758, 110/177). Điều đáng chú ý là mức độ tăng trưởng về GPP và chỉ số HDI của Indonesia và Philippin chậm lại kể từ khi các nước này dấn sâu hơn vào con đường đa nguyên về mặt chính trị. Theo tốc độ tăng trưởng hiện nay chỉ 2 năm nữa, Việt Nam sẽ qua mặt Indonesia và trong 5-7 năm tới sẽ vượt qua Philippin, các nước đi trước và là thành viên WTO trước Việt Nam nhiều thập kỷ. Điều đáng lưu ý là do chọn con đường đa nguyên về mặt chính trị mà trong quá khứ cũng như hiện tại Philippin và Indonesia thường xuyên phải đối mặt với các vụ khủng khoảng chính trị và rối loạn xã hội do đảo chính, bạo lực (khủng bố) và chia rẽ (Indonesia đa mất Đông Timor, vùng Acer cũng đang đòi tách…), và đó là lý do chính làm cho các nước này chậm phát triển về mặt kinh tế và xã hội. Và mặc dù đa nguyên về chính trị, Philippin và Indonesia cũng được liệt vào các nước tham nhũng nhất trên thế giới (Philippin hơn Việt Nam một bậc, còn Indonesia còn tệ hơn Việt Nam – PERC 2006). Còn với Thái Lan, mặc dù hiện nay có GDP cao hơn Việt Nam khoảng 3 lần, nhưng nếu tính cả chặng đường phát triển hàng thế kỷ không bị chiến tranh (thậm chí được hưởng lợi từ chiến tranh) thì đó cũng chưa phải là một thành tựu. Hơn nữa hệ thống chính trị của Thái Lan hiện nay cũng đang đối mặt với hàng loạt các vấn đề tương tự như Philippin và Indonesia (các vụ gây rối, khủng bố ở các tỉnh phía Nam Thái Lan hiện nay là một ví dụ).
Ở Nam Á, các nước như Pakistan, Bangladesh, Sri Lanca cũng giành được độc lập hơn trên dưới 50 năm nay và cũng lựa chọn con đường đa nguyên (mặc dù đôi khi do sự rối loạn của hệ thống chính trị đa nguyên mà các chính quyền quân sự độc tài xuất hiện) nhưng lại là những nước chậm phát triển nhất và thường xuyên bất ổn về mặt chính trị vì biểu tình, bạo lực, khủng bố, thậm chí nội chiến (như ở Sri Lanca). Năm 1990, Pakistan có GDP/người là 409 USD (tính theo giá trị hối đoái) gần gấp đôi Việt Nam (215), Bangladesh thì xấp xỉ Việt Nam (khoảng 200 USD) nhưng đến năm 2005, GDP/người của Pakistan tụt xuống chỉ còn 2400 USD (tính theo sức mua), bằng 0,8 của Việt Nam (3000 USD), còn Bangladesh thì chỉ mới đạt 2100 USD (bằng 0,7 của Việt Nam), mặc dù hai nước này được Mỹ và phương Tây thường xuyên khen là dân chủ và cũng thường nhận được những khoản viện trợ lớn, có nhiều ưu đãi trong thương mại (đều là thành viên WTO). Xét theo chỉ số HDI, tức là sự phát triển về con người, các nước này đều thấp hơn Việt Nam rất nhiều: Pakistan xếp thứ 135/177 nước (chỉ số 0.527), Bangladesh xếp thứ 139/177 nước (0.520) so với Việt Nam là 108/177 (0.704). Xin nhắc lại chỉ số này bao gồm không chỉ về kinh tế mà cả sức khỏe (tuổi thọ), giáo dục (tỷ lệ biết chữ), y tế (số giường bệnh và bác sỹ), và các dịch vụ xã hội khác (xem Report của UNDP năm 2005 và các năm trước). Như vậy, mặc dù là các nước lựa chọn con đường đa nguyên trước Việt Nam hàng mấy chục năm, không hề bị chiến tranh, lại được sự trợ lực của Mỹ và nhiều nước phương Tây nhưng Pakistan và Bangladesh… vẫn không phải là các nước phát triển. Tình hình cũng như vậy với Sri Lanca và gần đây là Iraq .
Ở Nam Mỹ, các nước như Bolivia, Peru… mặc dù diện tích và dân số nhỏ hơn Việt Nam nhiều, vốn là sân sau của Mỹ, cũng lựa chọn con đường đa nguyên mấy chục năm nay nhưng các cải cách xã hội thường diễn ra chậm chạp vì thường xuyên bất ổn vì hệ thống chính trị.
3.
Những ví dụ trên đây cho thấy, các nước có hoàn cảnh tương tự như Việt Nam (dân số đông, đa dân tộc, đa tôn giáo, cơ cấu xã hội phức tạp, các mâu thuẫn do lịch sử để lại còn căng thẳng) lựa chọn con đường đa nguyên về chính trị chỉ làm cho tình hình chính trị xã hội thêm phức tạp và vì vậy không có điều kiện để tập trung sức lực và trí tuệ phát triển kinh tế và thực hiện các cải cách dân sinh khác. Có thể phản bác lại ý kiến này rằng thực ra các nước như Philippin, Indonesia, Thái Lan, Pakistan… trước đây chưa phải là các nước đa nguyên về mặt chính trị, chưa phải là các nước dân chủ. Bằng chứng là ở các nước đó đã tồn tại các chế độ độc tài (như Marcos của Philippin, Suharto của Indonesia ) hoặc các chính quyền quân sự (như các chính quyền quân sự ở Nam Việt Nam , Thái Lan , Pakistan trước đây hay ở Myanmar hiện nay)? Tuy nhiên, cần phải phân biệt bản chất hệ thống chính trị của một nước (thể hiện qua hiến pháp và các luật cơ bản) với thực tiễn sân khấu chính trị của nước ấy. Ở các nước trên, hiến pháp và hệ thống chính trị được xây dựng theo các nguyên tắc dân chủ (đa nguyên, tam quyền phân lập) ngay từ khi giành đựoc độc lập, nhưng trong thực tế do các mâu thuẫn xã hội phức tạp và sự can thiệp của nhiều thế lực khác (cả bên trong và bên ngoài), nên các cuộc tranh giành quyền lực giữa các đảng phái chính trị rất căng thẳng và trong cuộc tranh giành quyền lực đó các nguyên tắc dân chủ thường bị vi phạm (như gian lận bầu cử họăc tố cáo nhau gian lận bầu cử, không chấp nhận thất bại, dùng các biện pháp cực đoan để gây sức ép về chính trị, tiến hành đảo chính)… Và một khi sự tranh giành quyền lực giữa các đảng phái dẫn đến sự hỗn loạn về mặt chính trị-xã hội thì dễ dàng tạo cơ hội cho sự xuất hiện các nhà độc tài hay các chính quyền quân sự. Như vậy thực ra, các nhà độc tài và chính quyền quân sự cũng là sản phẩm bất đắc dĩ nhưng tất yếu của chế độ chính trị đa nguyên, khi nó gặp những điều kiện xã hội, dân tộc, tôn giáo phức tạp. Đó là thực tế sân khấu chính trị của các nước như Philippin , Indonesia , Thái Lan , Pakistan , Myanmar … (và cả ở các nước khác ngoài châu Á, như Chi Lê , Venezuela , Peru , Bolivia v.v…) mấy chục năm vừa qua và đến nay khả năng khủng khoảng như vậy vẫn tiềm ẩn ở các nước trên (vụ đảo chính vừa xảy ra ở Philippin là một ví dụ). Và cái chu trình dân chủ > (hỗn loạn) > độc tài (quân sự) > dân chủ >… cứ lặp đi lặp lại… và để đạt đến một trình độ dân chủ kiểu như hiện nay, các nước đó đã mất vài chục năm. Như vậy, nếu Việt Nam lựa chọn con đường đa nguyên ở thời điểm hiện nay thì lấy gì để đảm bảo Việt Nam không lặp lại con đường “dân chủ” mà các nước đó đã đi qua và phải mất mấy chục năm nữa Việt Nam mới có được một chế độ dân chủ kiểu như Thái Lan và để có nó Việt Nam phải trả giá bằng sự bất ổn về mặt xã hội và chậm phát triển về mặt kinh tế – xã hội do không ổn định về mặt chính trị như thế nào?
Trong khi đó, trong 20 năm qua Việt Nam và Trung Quốc mặc dù chỉ có một đảng lãnh đạo nhưng đã tạo ra những thay đổi vượt bậc về kinh tế và xã hội, điều mà không một nước nào có hoàn cảnh lịch sử- xã hội tương tự nhưng có hệ thống chính trị đa nguyên làm được trong cùng giai đoạn vừa qua (từ năm 1986 đến nay Việt Nam tăng trưởng ở mức trên 7%, Trung Quốc trên 9%; Việt Nam có chỉ số HDI duới 120 những năm đầu 90 lên vị trí 108 hiện nay, Trung Quốc từ vị trí dưới 100 lên vị trí 85). Vậy thì tại sao chúng ta lại tự nhiên từ bỏ con đường đang thuận lợi đó để lựa chọn một con đường khác mà thực tế nhiều nước có hoàn cảnh tương tự đã cho thấy không phải là sáng sủa. Tất nhiên với những bất cập của hệ thống chính trị một đảng (bất cứ hệ thống nào cũng có những bất cập của nó) vẫn còn nhiều việc phải làm để cho hệ thống vận hành tốt nhưng không phải là thêm một lần thử nghiệm nữa.
4.
Cuối cùng tôi đề nghị các vị chủ trương đa nguyên thử hình dung về viễn cảnh của một Việt Nam đa nguyên sẽ như thế nào? Theo sự hình dung của tôi thì, một khi hệ thống chính trị đa nguyên đa đảng được áp dụng, ít nhất có các đảng phái và các tổ chức chính trị sau đây sẽ ra đời ở Việt Nam :
Đảng Cộng sản: chủ trương con đường xây dựng xã hội như hiện nay.
Các đảng phái theo hướng dân chủ xã hội: áp dụng các mô hình Tây Âu và Bắc Âu.
Các đảng phái theo khuynh hướng dân tộc như Quốc Dân đảng: có thể áp dụng các mô hình cổ điển của Đài Loan, Hàn Quốc (độc tài trong đa nguyên).
Các đảng phái có khuynh hướng “quốc gia”, chủ trương khôi phục chế độ Việt Nam Cộng Hòa, nhưng với nhiều quan điểm khác nhau (đảng thì ủng hộ chế độ Ngô Đình Diệm, đảng thì ủng hộ chế độ Nguyễn Văn Thiệu), thậm chí chủ trương xây dựng một quốc gia không cộng sản.
Các đảng phái có khuynh hướng tôn giáo (Thiên Chúa giáo, Phật giáo, Hòa Hảo) chủ trương tôn giáo tự trị, thậm chí là các vùng tự trị tôn giáo.
Các đảng phái của các tộc người thiểu số chủ trương tự trị hoặc độc lập hoàn toàn cho các vùng Tây Nguyên, Tây Bắc, Việt Bắc (thậm chí có khi còn chủ trương sát nhập một phần Việt Nam vào nước ngoài).
Các đảng phái có khuynh hướng địa phương chủ nghĩa, chủ trương phân chia Bắc, Trung, Nam… thậm chí tách các vùng này thành các quốc gia độc lập, v.v…
Trong các đảng phái, các tổ chức chính trị trên đây, chắc chắn sẽ có các đảng phái, các tổ chức chính trị có chủ trương, đường lối trái với lợi ích quốc gia, chính quyền dân chủ sẽ xử lý như thế nào? Nhà nước có thể cấm họ tổ chức, tuyên truyền và hoạt động, nhưng như vậy sẽ vi phạm các quy tắc của trò chơi dân chủ (quyền lập hội, quyền tự do ngôn luận, quyền không bị phân biệt đối xử vì chính kiến), và sẽ đẩy họ vào con đường đấu tranh phi pháp. Vậy thì chấp nhận luật chơi dân chủ, cứ để họ tổ chức đảng phái, tuyên truyền và tham gia bầu cử để cạnh tranh, nếu thu trên 5% sẽ được vào Quốc hội còn dưới 5% thì ở ngoài để tiếp tục tranh đấu một cách hòa bình? Xin thưa lý thuyết là như vậy, nhưng thực tế thì lại khác. Lịch sử quá khứ và tình hình hiện tại ở Philippin, Indonesia, Sri Lanca, Iraq, Pakistan, Thái Lan, Peru, Bolivia, Nam Tư và hàng loạt các nước khác cho thấy khi mà dân trí thấp, khi mà các mâu thuẫn về lịch sử, xã hội, tôn giáo và dân tộc phức tạp, khi mà các nhóm thiểu số đặt lợi ích cục bộ lên trên lợi ích quốc gia, khi mà các thế lực bên ngoài tìm mọi cách can thiệp chia rẽ để trục lợi, có không ít đảng phái lựa chọn các hình thức khác nhau (hợp pháp và phi pháp, bất bạo động và bạo động) để tạo ra sự hỗn lọan, gây sức ép nhằm thực hiện mục tiêu chính trị của mình. Và lấy cái gì để đảm bảo điều đó không lặp lại ở Việt Nam ? Và một khi hàng loạt các cuộc biểu tình, bạo động, khủng bố đòi tự trị, đòi độc lập, đòi ly khai nổ ra khắp nơi, chính quyền phải xắn tay áo lên để đối phó, thậm chí phải dùng bạo lực để dẹp loạn…, và các thế lực bên ngoài được dịp nhảy vào dưới cái mác dân chủ và nhân quyền để can thiệp và hưởng lợi. Lúc đó, chắc chắn xã hội Việt Nam sẽ bị chìm ngập vào các cuộc tranh cãi triền miên về chính trị, các hoạt động tranh giành quyền lực bằng bạo lực và phi bạo lực, thậm chí là nội chiến, ly khai; và thế là các nhà đầu tư nước ngoài sẽ rút chạy, khách du lịch sẽ không dám đặt chân đến, và tất nhiên các cải cách kinh tế, xã hội và dân sinh sẽ bị đình đốn. Điều đó cũng có nghĩa là sự nghiệp đổi mới mà chúng ta đang tiến hành sẽ thất bại và giấc mơ hiện đại hoá đất nước sẽ tan thành mây khói.
Có thể có người cho rằng Việt Nam có các đặc điểm xã hội – lịch sử không phức tạp như các nước trên, nên con đường đi đến dân chủ bằng đa nguyên sẽ dễ dàng hơn? Tại thời điểm này, trong điều kiện hiện nay, với sự chuyên chính (độc tài) của hệ thống luật pháp một đảng kết hợp với chính sách đại đoàn kết dân tộc, tôi đồng ý rằng Việt Nam có điều kiện chính trị xã hội ổn định hơn các nước trên. Nhưng nếu mở cửa cho đa nguyên xem, bức tranh chính trị-xã hội của Việt Nam sẽ hoàn toàn khác. Lúc đó, dưới quan niệm cực đoan về tự do dân chủ, đặc biệt khi mà tính đoàn kết bị bài xích, lòng thù hận, sự kỳ thị và chia rẽ, sự mù quáng và cuồng tín được kích động, dù có các thiết chế dân chủ cũng không có gì đảm bảo rằng các mâu thuẫn về chính trị, sắc tộc, tôn giáo, địa phương lại không bùng phát…, rằng các nhóm cực đoan sẽ không sử dụng bạo lực để đạt những mục đích mà họ không đạt được bằng con đường dân chủ, hoặc khi họ cho rằng dân chủ là giả hiệu. Iraq trước chiến tranh dưới chế độc tài của Hussein, người Sunnit, người Shiit, người Kurd, mặc dù không thật thân thiện nhưng vẫn sống cùng nhau bình thường trong xã hội, nhưng từ sau chiến tranh, mặc dù đã có hiến pháp, có một chính quyền dân chủ, họ lại lao vào chém giết nhau với lòng thù hận và khát máu… và đất nước Iraq hiện đang đứng bên bờ vực nội chiến, bất chấp sự có mặt của hơn 130.000 lính Mỹ.
Đất nước mới qua thời tao loạn và đang bắt đầu hồi sinh, phát triển. So với 15-20 năm trước đây, con tàu đất nước đã khỏe hơn nhiều và con đường đi tới cũng đã rõ hơn nhiều. Có nhiều trắc trở khó khăn nhưng đây không phải là lúc chúng ta đứng trước ngã ba đường để băn khoăn chọn hướng, mà là lúc chúng ta đang tìm cách làm cho con tàu tăng tốc để tiếp tục cuộc hành trình. Nếu có phải lựa chọn, thì sự lựa chọn lúc này không phải là thêm một lần thử nghiệm rẽ sang phải hay rẽ sang trái, mà là làm sạch bộ máy, chỉnh sửa hỏng hóc, thậm chí thay thế những bộ phận thoái hoá, biến chất và tiếp thêm nhiên liệu, nguồn lực mới để con tàu đi nhanh hơn, đến đích sớm hơn trên con đường đã chọn.
(Trường Đại học Quốc gia Seoul , Hàn Quốc)
© 2006 talawas

13.3.2006
Nguyễn Quang A
Dân chủ chứ đâu chỉ là đa nguyên
(Trao đổi với ông Quang Linh nhân đọc bài “Việt Nam có nên chọn con đường đa nguyên chính trị hay không?”)

Trước hết tôi rất đồng cảm với những trăn trở của ông Quang Linh về những thách thức đặt ra với đất nước. Nhưng phải nói ngay, tôi nói về một quá trình chuyển đổi hoà bình từ hiện trạng sang một chế độ dân chủ, còn ông Quang Linh nói về việc “chọn con đường đa nguyên cho Việt Nam tại thời điểm này là một việc làm phiêu lưu”. Như thế, nhận xét của ông không liên quan đến tôi, nên thực ra tôi không muốn tranh luận, mà chỉ muốn trao đổi cho rõ vấn đề. Chúng ta đều có chung mục đích: xây dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng và văn minh”, và phải nói ngay đó là mục đích do Đảng Cộng sản Việt Nam đề xướng. Và đó là điều quan trọng nhất. Chúng ta đều muốn có ổn định chính trị, đều muốn tránh bạo lực, bạo động. Chúng ta đều thống nhất là, Việt Nam không nên và không thể sao chép mù quáng cách làm của bất kì ai, của bất cứ nước nào, mà phải tìm ra cách thích hợp nhất của mình; nhưng phải học kinh nghiệm hay và dở của các nước khác. Tôi đồng ý với gần như tất cả những phân tích của ông Quang Linh trong phần 1 đến phần 3 khi chỉ xét riêng khía cạnh đa nguyên, song nếu xét từ quan điểm dân chủ thì lại khác. Tôi đã được nghe, được trao đổi về những phân tích của các học giả trong nước, nhất là của những người cộng sản khá giống phân tích của ông Quang Linh. Cũng phải nói thêm, nếu tôi hiểu đúng ông Nguyễn Trung, ông Nguyễn Trung hoàn toàn phản đối loại “cách mạng dân chủ” xảy ra ở vài nước thuộc Liên Xô cũ mà ông gọi là “cách mạng da cam da quýt”, tuy tôi không đồng ý với cách dùng từ của ông. Cả ông Nguyễn Trung và tôi đều cho là tiến hoá (evolution) hay hơn cách mạng (revolution) nhiều. Tức là (cả ba) chúng ta đều đồng ý cải cách, chỉnh sửa, làm từ từ, dần dần; không ai trong (hai) chúng tôi chủ trương cách mạng dẫn đến dân chủ vô độ cả. Ông Nguyễn Trung chỉ nói rằng về lâu về dài đa nguyên chính trị là không thể tránh khỏi, ông không kiến nghị ngay lập tức, ông cũng chưa nêu ra thời gian biểu, theo tôi hiểu ông gợi ý là: phải chuẩn bị chu đáo cho một quá độ sang nền dân chủ, phải xây dựng nhà nước pháp quyền, phải phát triển xã hội dân sự, phải phát triển kinh tế, nâng cao dân trí, duy trì và nuôi dưỡng đại đoàn kết dân tộc. Tôi hoàn toàn đồng ý với ông Nguyễn Trung, nếu như tôi hiểu đúng ý ông như vừa nêu lại ở trên. Theo tôi ông Nguyễn Trung, một đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam đã giữ nhiều trọng trách, chắc chắn (và bạn đọc có thể thấy từ các bài viết của ông) không chủ trương bất cứ gì làm tổn hại đến quyền lực của Đảng Cộng sản Việt Nam, mà chỉ muốn nó ngày càng mạnh lên. Chúng tôi chủ trương cách đi đến nền dân chủ sao cho vẫn giữ được ổn định chính trị, phát triển được kinh tế, văn hoá, khoa học và con người. Tôi nghĩ không ai có thể hiểu lầm được điều đó từ các bài viết của ông Nguyễn Trung và bài của tôi. Là những người thực tiễn, chúng tôi biết và những người Việt Nam khác cũng biết rằng: Ý định, mục tiêu có thể rất cao cả nhưng kết quả có thể hoàn toàn ngược lại, do có những hệ quả không dự kiến được trước, bất luận kế hoạch được vạch ra có chu đáo, cẩn thận đến thế nào, chính vì thế những cảnh báo như của ông Quang Linh là rất đáng trân trọng. Đó là điều rất đáng mừng. Nếu chúng ta có chung mục đích, thảo luận với nhau về đường đi nước bước trên tinh thần xây dựng, khoan dung, tin cậy lẫn nhau, tôi tin chúng ta có thể tìm ra được cách tốt hơn, nhanh hơn, hiệu quả hơn đến một nền dân chủ. Nếu làm như thế tôi tin có thể loại bỏ được, giảm được, hay chí ít có chuẩn bị để đối phó với những vấn đề xấu mà ông Quang Linh (và nhiều người khác ở Việt Nam ) nghĩ là có khả năng xảy ra (tôi sẽ nêu ý kiến sau). Chúng tôi nói về dân chủ, về một quá độ hoà bình sang nền dân chủ mà trong kết quả cuối cùng của nó là, giữa những thứ khác, có đa nguyên chính trị; ông Quang Linh thì nói về đa nguyên và cho rằng “chọn con đường đa nguyên cho Việt Nam tại thời điểm này là một việc làm phiêu lưu, bởi vì nó tiềm tàng nguy cơ làm cho Việt Nam mất sự ổn định về mặt chính trị-xã hội và bỏ lỡ thời cơ phát triển kinh tế và thực hiện các cải cách dân sinh khác” [Tôi nhấn mạnh]. Có thể thấy rất rõ ở đây: tôi nói về một chuyện, còn ông Quang Linh nói về một chuyện khác. Một đằng nói về quá trình cải cách, quá trình tiến hoá đến một nền dân chủ mà kết quả cuối cùng của quá trình đó dẫn đến đa nguyên chính trị; một bên nói về điểm xuất phát là nếu chọn con đường đa nguyên tại thời điểm này, thì… Có lẽ đó là khác biệt quan trọng nhất trong cách đặt vấn đề của tôi và của ông Quang Linh, và như thế về nguyên tắc chẳng có gì phải tranh luận với nhau cả. Tuy nhiên, tôi vẫn muốn trao đổi với ông Quang Linh một vài điểm để chúng ta hiểu nhau hơn, để bạn đọc hiểu chúng ta hơn và để tránh những hiểu lầm nếu có.
I. Chính thể dân chủ
Để tránh hiểu lầm, tôi xin nói là tôi bàn về một quá trình tiến đến hay quá trình xây dựng một chính thể dân chủ ở Việt Nam . Chính thể đó gồm nhiều định chế, thể chế và việc xây dựng nó không thể làm một sớm một chiều. Về khái niệm chính thể hay chế độ dân chủ, tôi xin trích Popper về cách hiểu chính thể dân chủ của ông mà tôi lấy làm của mình (Xã hội mở và những kẻ thù của nó, tập II, chương 19):
Tôi đặt cơ sở cho phê phán này trên luận điểm rằng nền dân chủ có thể hoạt động chỉ nếu các đảng chính tôn trọng triệt để quan điểm về các chức năng của nó những cái có thể được tóm tắt trong một số qui tắc như thế này:
(1) Nền dân chủ không thể được đặc trưng hoàn toàn như sự cai trị của đa số, mặc dù thể chế về tổng tuyển cử là quan trọng nhất. Vì một đa số có thể cai trị theo cách chuyên chế. (Đa số của những người thấp hơn 6 bộ [feet] có thể quyết định rằng thiểu số những người cao hơn 6 bộ sẽ nộp mọi loại thuế). Trong một nền dân chủ, quyền lực của những người cai trị phải bị hạn chế; và tiêu chuẩn của một nền dân chủ là thế này: Trong một nền dân chủ, các nhà cai trị – tức là, chính phủ – có thể bị sa thải bởi những người bị trị mà không có đổ máu. Như thế nếu những người nắm quyền không bảo vệ các thể chế đảm bảo cho thiểu số khả năng hoạt động cho một thay đổi hoà bình, thì sự cai trị của họ là một chế độ chuyên chế.
(2) Chúng ta chỉ cần phân biệt giữa hai dạng chính phủ, tức là loại chính phủ có các thể chế thuộc loại này, và tất cả các loại khác, tức là các nền dân chủ và các chế độ chuyên chế.
(3) Một hiến pháp dân chủ nhất quán phải loại trừ chỉ một loại thay đổi trong hệ thống pháp lí, cụ thể là một sự thay đổi có thể gây nguy hiểm cho đặc tính dân chủ của nó.
(4) Trong một nền dân chủ, sự bảo vệ hoàn toàn của các thiểu số không được mở rộng ra cho những người vi phạm pháp luật, và đặc biệt không cho những người kích động người khác để lật đổ nền dân chủ bằng bạo lực.
(5) Một chính sách tạo khung khổ các thể chế để bảo vệ nền dân chủ phải luôn luôn được tiến hành trên giả thiết rằng có thể có các xu hướng chống dân chủ tiềm ẩn giữa những người bị trị cũng như giữa những nhà cai trị.
(6) Nếu nền dân chủ bị phá huỷ, mọi quyền đều bị phá huỷ. Dù là các lợi ích kinh tế nào đó, mà những người bị trị được hưởng, vẫn còn tồn tại, chúng có thể vẫn còn chỉ vì bất đắc dĩ phải chấp nhận.
(7) Nền dân chủ cung cấp một chiến trường vô giá cho bất cứ cải cách hợp lí nào, vì nó cho phép cải cách mà không có bạo lực. Nhưng nếu sự duy trì nền dân chủ không biến thành cân nhắc đầu tiên trong bất cứ cuộc chiến đấu nào được đấu tranh đến cùng trên chiến trường này, thì các xu hướng chống dân chủ tiềm tàng luôn luôn hiện diện (và chúng lôi cuốn những người chịu đựng căng thẳng của nền văn minh…) có thể gây ra một sự đổ vỡ của nền dân chủ. Nếu một sự hiểu biết về các nguyên lí này vẫn chưa được phát triển, phải chiến đấu vì sự phát triển của nó. Chính sách ngược lại có thể hoá ra tai hoạ; nó có thể gây ra sự thất bại của cuộc chiến đấu quan trọng nhất, cuộc chiến đấu vì bản thân nền dân chủ.”
Hay trong bài báo của mình, tôi đã dùng cách hiểu mà có người đã phê phán là hơi ôm đồm vì nó bao gồm cả nhà nước pháp quyền: “chế độ dân chủ được hiểu là chế độ trong đó: công nhận đầy đủ quyền công dân; thể chế nhà nước pháp quyền trở thành nguyên lí hiến pháp cơ bản; tư pháp độc lập; bầu cử dân chủ lựa ra những người cầm quyền; các cuộc bầu cử phải tự do và trong sạch; mọi người đều có quyền tự do nêu ý kiến, có tự do ngôn luận và có quyền tiếp cận nguồn thông tin khả dĩ khác; tự do lập hội, kể cả quyền lập tổ chức chính trị; và cuối cùng là sự kiểm soát dân sự đối với các lực lượng vũ trang. Đó là chế độ nơi những người bị trị có thể sa thải những kẻ cai trị mà không phải dùng đến bạo lực, và có các định chế cho việc chọn và phế truất những người cầm quyền sao cho những người cầm quyền khó có thể thay đổi các định chế này.”
Hay bạn đọc có thể tham khảo cách hiểu của Kornai (“What the Change of System From Socialism to Capitalism Does and Does Not Mean”. Journal of Economic Perspectives. Vol. 14, No.1- Winter 2000, pp. 27-42; mà tôi đã biên dịch và bổ sung ra tiếng Việt):
Dân chủ là một sự kết hợp của các tổ chức chính trị, các thể chế, các chuẩn mực xã hội và các hình thức ứng xử được xác nhận nhằm tạo ra các điều kiện hoạt động nhất định của xã hội. Ta liệt kê ở đây bốn điều kiện tối thiểu của một nền dân chủ khả dĩ hoạt động được; ngay thứ tự của các điều kiện này cũng là quan trọng.
1. Chính phủ có thể bị hạ bệ, và sự hạ bệ được tiến hành một cách văn minh. Đối với chúng ta những người Đông Âu, khá rõ việc hạ bệ các nhân vật nắm quyền hay các nhóm nắm quyền một cách không văn minh có nghĩa thế nào; họ bị sát hại, trở thành nạn nhân của một cuộc đảo chính, bị hành quyết hay bỏ tù sau khi họ bị hạ bệ bởi một cuộc nổi dậy, v.v. và v. v..
2. Các nền dân chủ dùng thủ tục bầu cử để hạ bệ một cách văn minh. Thủ tục này được kiểm soát bởi các luật và các thông lệ. Thủ tục bầu cử phản ánh ở một mức độ nào đó sự đồng tình hoặc bất đồng tình của công chúng. Chúng ta kiêng dùng đại ngôn khi nói rằng dân chủ thể hiện “ý muốn của đa số ” hay ý chí của nhân dân,” bởi vì sự truyền đạt gắn kết sự ưa chuộng của các công dân với thành phần của quốc hội và chính phủ thông qua quá trình bầu cử không tránh khỏi những trục trặc và méo mó.
3. Trong một nền dân chủ, không có quyền lực chính trị nào hay ý thức hệ tư tưởng chính trị nào có độc quyền được đảm bảo bởi sức mạnh của nhà nước. Quá trình chính trị dựa trên cơ sở cạnh tranh: các đảng, các phong trào và các nhóm chính trị ganh đua với nhau để giành phiếu bầu và sự ủng hộ chính trị khác. Do đó, mọi nền dân chủ đều hoạt động như một hệ thống đa đảng.
4. Dân chủ không chỉ đơn giản thông qua hay ban hành các quyền tự do chính trị, nó đảm bảo chúng trong thực tế. Nhà nước không thể cản trở thô bạo quyền tự do ngôn luận, báo chí, hoặc quyền tự do hội họp và lập hội.”
Hay bạn đọc có thể xem quan niệm của A. Sen [trong “Democracy as a universal value” (Dân chủ như một giá trị phổ quát) Journal of Democracy 10.3 (1999) pp. 3-17, hay trong cuốn Phát triển là Tự do (Development as Freedom) ấn bản tiếng Việt của ông].
Mấy khía cạnh quan trọng cần lưu ý về chính thể dân chủ là: (a) người dân có thể hạ bệ chính phủ mà không cần dùng bạo lực [tức là có các thể chế để phân chia, kiểm soát và kiềm chế quyền lực, cố tránh “nghịch lí dân chủ” hay nghịch lí “đa số”, điểm (1) ở Poppper điểm 1 và 2 ở Kornai]; (b) đảm bảo các quyền tự do [điểm 4 ở Kornai] nhưng không có tự do vô độ [điểm (4) của Popper] tức là tránh nghịch lí “tự do”; (c) không có độc quyền chính trị mà có cạnh tranh đa đảng [điểm 3 ở Kornai]. Nếu chỉ luận bàn về đa nguyên chính trị (điểm thứ 3 ở Kornai, lưu ý Kornai xếp thứ tự có chủ ý theo tầm quan trọng!) mà không để ý đến những mặt khác của chế độ dân chủ, để cho nghịch lí dân chủ, nghịch lí tự do có điều kiện hoạt động hay tạo điều kiện cho chúng hoạt động thì những khả năng như ông Quang Linh nêu ra là có thể xảy ra. Sở dĩ phải dài dòng như thế để thấy rõ sự khác biệt giữa cái tôi bàn luận và cái ông Quang Linh bàn trong bài viết của mình. Nói cách khác, đa nguyên không là điều kiện đủ cho dân chủ, và cái chúng ta muốn là dân chủ, chứ không phải là đa nguyên chính trị vì đa nguyên chính trị. Dù có ôm đồm, tôi vẫn mong muốn có cả nền dân chủ như trên, lẫn nhà nước pháp quyền, và xã hội dân sự mạnh, chúng tăng cường lẫn nhau, tạo điều kiện cho nhau.
Để thấy rõ sự khác biệt giữa cái tôi bàn và cái ông Quang Linh bàn, hãy đơn giản hoá và tưởng tượng một hệ toạ độ có một trục thời gian T, một trục gộp các tính năng khác của chế độ dân chủ lại như một chiều D, còn tách riêng đa nguyên theo trục P.

Hiện trạng có thể coi là gốc toạ độ, mục tiêu là vòng tròn đích. Kịch bản đa nguyên ngay lập tức được chỉ bằng mũi tên đỏ (dịch chuyển theo trục P), kịch bản tiến hoá hoà bình đến mục đích được chỉ bằng mũi tên xanh hướng đến mục tiêu (dịch chuyển trong không gian 3 chiều). Có thể thấy kịch bản ngay lập tức là bất khả thi trong lược đồ này và không biết nó sẽ dẫn đến đâu (đúng như ông Quang Linh phân tích). Còn con đường hay cách tiếp cận mà tôi bàn luận là hoàn toàn khác. [Kornai cho rằng có lẽ ở Trung Quốc và Việt Nam con đường đến dân chủ có thể là con đường màu vàng ở hình trên: tức là phát triển trên cơ sở chuyên chế (từ gốc toạ độ chạy trên mặt phẳng T-D (G), hoàn toàn không có đa nguyên, rồi khi đạt trình độ phát triển nhất định thì nhảy theo mũi tên vàng thứ hai sang dân chủ]. Tôi nghĩ mô hình hay hơn là mô hình Kornai sửa đổi (2 mũi tên vàng biến thành 1 mũi tên xanh). Tất nhiên đây là cách hình dung sơ lược chỉ để nêu rõ sự khác biệt, con đường đi không thẳng tắp mà có thể có lắm chông gai.
Nếu hiểu dân chủ đầy đủ như vậy thì tất cả các nước mà ông Quang Linh nhắc đến trong điểm 2 cách đây 10 năm đều đã có các chế độ chuyên chế, một số đã chuyển sang nền dân chủ nhưng chưa phải là các nền dân chủ chín muồi. Có thể nói họ vẫn còn đang trên con đường đó. Nói tóm lại đa đảng không chắc đã dẫn đến dân chủ. Cái chúng ta cần là dân chủ chứ không chỉ là đa nguyên chính trị.
II. Vài nhận xét về những phân tích của ông Quang Linh
1.     Ông Quang Linh chỉ xét đến đa nguyên, mà như đã nói ở trên hầu như tất cả các nước mà ông nêu ra ở điểm 2 đều mới bước vào con đường dân chủ, cách đây không lâu họ vẫn là các chế độ chuyên chế. Chính vì thế, nếu xét trên quan điểm dân chủ, chúng ta có thể có những lí giải khác xa lí giải của ông Quang Linh về các con số và những so sánh. Cho nên tôi nghĩ những nhận xét của ông, nếu xét trên quan điểm tiến đến nền dân chủ, thì ít có ý nghĩa để Việt Nam tham khảo, hay thậm chí có thể bị lạm dụng để biện minh cho duy trì hiện trạng chuyên chế.
2.     Ông nhận xét: “Trong khi đó, trong 20 năm qua Việt Nam và Trung Quốc mặc dù chỉ có một đảng lãnh đạo nhưng đã tạo ra những thay đổi vượt bậc về kinh tế và xã hội, điều mà không một nước nào có hoàn cảnh lịch sử- xã hội tương tự nhưng có hệ thống chính trị đa nguyên làm được trong cùng giai đoạn vừa qua (từ năm 1986 đến nay Việt Nam tăng trưởng ở mức trên 7%, Trung Quốc trên 9%; Việt Nam có chỉ số HDI duới 120 những năm đầu 90 lên vị trí 108 hiện nay, Trung Quốc từ vị trí dưới 100 lên vị trí 85). Vậy thì tại sao chúng ta lại tự nhiên từ bỏ con đường đang thuận lợi đó để lựa chọn một con đường khác mà thực tế nhiều nước có hoàn cảnh tương tự đã cho thấy không phải là sáng sủa. Tất nhiên với những bất cập của hệ thống chính trị một đảng (bất cứ hệ thống nào cũng có những bất cập của nó) vẫn còn nhiều việc phải làm để cho hệ thống vận hành tốt nhưng không phải là thêm một lần thử nghiệm nữa”.
Về cơ bản tôi không kiến nghị tự nhiên từ bỏ, mà tôi kiến nghị tiếp tục cải cách, chỉnh sửa, nuôi dưỡng cho lực lượng đối lập, sửa đổi luật pháp, xây dựng các định chế, v.v. để tiến đến nền dân chủ. Và việc đó cần thời gian, cần sự thảo luận, và không thể không có sự tham gia tích cực của Đảng Cộng sản. Và phải nói ngay, hiện tại chưa có lực lượng nào có thể cạnh tranh chứ nói chi đến thay thế đảng cầm quyền hiện nay (theo tôi trong ít nhất 5 năm tới). Cho nên muốn có dân chủ và nếu đảng cầm quyền thực sự anh minh, vì dân vì đất nước, thì họ phải, hay nên, hay không cản trở sự phát triển của lực lượng đối lập, mở rộng tự do ngôn luận, xây dựng nhà nước pháp quyền, xây dựng xã hội dân sự mạnh, nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình, v.v. Những việc rất khó, nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam đang làm một số trong những việc đó. Nhìn từ khía cạnh này, tôi lại nghĩ một vài kinh nghiệm của một số nước Đông Âu là đáng để chúng ta tham khảo.
3.     Ông Quang Linh nêu ra một viễn cảnh khá đáng sợ ở mục cuối bài viết của ông. Nếu theo cách tiếp cận tiến hoá, cải cách tiến đến xã hội dân chủ thì những viễn cảnh đó khó có thể xảy ra, tuy nêu ra chúng để cân nhắc, để đề phòng, để có biện pháp tránh là một việc nên làm.
4.     Dựa vào kinh nghiệm Hàn Quốc, Đài Loan , Singapore , Trung Quốc có ý kiến cho rằng: đầu tiên hãy phát triển kinh tế trên cơ sở chuyên chế. Nếu thay trục D ở hình trên bằng trục G (tăng trưởng kinh tế), thì mô hình này chỉ gồm có mặt phẳng G-T, và đường phát triển sẽ giống như mô hình Kornai (mũi tên vàng thứ nhất ở trên). Những nghiên cứu kinh tế lượng cho thấy tăng trưởng trên cơ sở chuyên chế không tỏ ra ưu việt hơn tăng trưởng trên cơ sở dân chủ (xem Sen, Kornai). Song đây cũng là con đường khả dĩ, tuy tôi cho là không hay bằng con đường tiến dần tới dân chủ. Vì dân chủ có những giá trị khác không thể thay thế được.
5.     Mặt khác vì dân chủ ngày nay được coi là một giá trị phổ quát (xem thí dụ Sen hay Kornai), nó có giá trị nội tại (intrinsic value) quan trọng; nó có giá trị phương tiện (instrumental value) và có vai trò xây dựng (constructive role), cho nên hướng tới, chăm chút, nuôi dưỡng nó là việc rất đáng làm. Vì chỉ có thế mới có thể phát triển bền vững, mới có thể giảm bớt những căng thẳng xã hội (như vụ Thái Bình, Tây Nguyên, v.v.), mới có thể giải quyết những vấn đề hết sức nghiêm trọng như vấn đề tham nhũng, vấn đề đất đai, vấn đề khiếu kiện ngày càng tăng của người dân, mới có phát triển thực sự.
Hà Nội 8-3-2006
© 2006 talawas

Nguyễn Trung
Hội Ngộ của Lý Trí và Lợi Ích
Từ Trái Tim Đến Với Trái Tim, 4
http://www.kinhtehoc.com/index.php?name=News&file=article&sid=255&theme=Printer

Cụm câu hỏi thứ 4: Dân chủ tất yếu phải gắn với đa nguyên?

Trong bài viết của mình tôi đã nêu: Một trong những thành quả rất quan trọng của 20 năm đổi mới là đã đạt được một bước tiến lớn trên con đường dân chủ hóa toàn bộ đời sống của đất nước – nguyên nhân hàng đầu của mọi thành tựu đã dành được. Tự do dân chủ hiển nhiên là động lực, là mục đích của phát triển, là khát vọng của từng con người muốn và biết làm người. Thiết nghĩ trình bày như thế những suy nghĩ của tôi về tự do dân chủ như vậy là tạm đủ trong khuôn khổ bài viết này.
Tôi xin đi thẳng vào một số ý kiến phản hồi cho rằng: Chế độ chính trị một đảng đối lập với dân chủ, muốn thực hiện dân chủ nhất thiết phải chấp nhận đa nguyên đa đảng.
Tôi nghĩ rằng đa nguyên với nghĩa đúng đắn của nó là một điều kiện không thể thiếu được của thực hiện và phát huy dân chủ. Tôi cũng thừa nhận nếu không có hệ thống chính trị và trong toàn bộ đời sống của đất nước có những khó khăn hoàn toàn khác và và không thuận lợi như ở các nước có chế độ chính trị đa nguyên.
Đồng chí đảng viên Trần Xuân Bách vừa mới mất, lúc sinh thời còn đặt dân chủ ở tầm cao hơn nhiều: “Dân chủ không phải là ban ơn, không phải là mở rộng dân chủ hay dân chủ mở rộng… Dân chủ là quyền của dân, với tư cách là người làm nên lịch sử, không phải là ban phát do tấm lòng của người lãnh đạo này hay người lãnh đạo kia. Thực chất của dân chủ là khơi thông trí tuệ của toàn dân tộc và đưa đất nước đi lên kịp thời đại…”.
Còn để hiểu kỹ hơn nữa thế nào là dân chủ, phải quay lại học người thầy vỹ đại của chúng ta là Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu như Người đã nêu trong Tuyên Ngôn Độc Lập, trong Hiến Pháp 1946, trong Di chúc, trong nhiều trước tác khác của Người, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn có một câu nói vô cùng đơn giản: “Dân chủ có nghĩa là để cho người dân được mở mồm ra nói!”.
Bây giờ tôi xin hỏi thẳng những bạn muốn áp dụng chế độ đa nguyên đa đảng vào nước ta: Bằng cách nào?
Một số ý kiến phản hồi đã trả lời: Cho thành lập các đảng phái đối lập! Cho thành lập báo tư nhân, nhà xuất bản tư nhân!…
Tôn trọng tự do ý kiến của mọi người, tôi đề nghị mọi người cứ suy nghĩ, nhất là suy nghĩ về khả năng thực thi tối ưu, với mục đích đạt kết quả tối ưu cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Suy nghĩ và kiến nghị thẳng thắn với Quốc hội hay với Đảng – tùy sự lựa chọn của các bạn.
Tôi đã nói và xin nhắc lại rõ ràng: đa nguyên đa đảng để dẫn tới “da cam da quýt” với biết bao nhiêu hỗn loạn, làm đổ vỡ nền kinh tế, đẩy đất nước vào thảm họa như đã từng xảy ra ở một số nước, công dân đảng viên Nguyễn Trung dứt khoát chống lại.
Tôi xin hỏi thêm: Trong hiện trạng và trình độ phát triển mọi mặt của nước ta ở nấc thang hiện nay, có gì đảm bảo chắc chắn thực hiện ngay đa nguyên đa đảng sẽ không dẫn tới kịch bản đầy mùi máu và nước mắt như vừa giả định bên trên? Không dẫn tới các mafia “năm Cam”, “sáu Cam “… vô cùng tệ hại? Xin suy nghĩ và tìm những câu trả lời nghiêm túc.
Gần đây đồng chí Vũ Mão nêu kiến nghị lập Toà án Hiếp pháp, Quốc hội nên có một số ghế cho người Việt ở nước ngoài… Tôi trân trọng những suy nghĩ này khả thi đến đâu trong chế độ một Đảng như ở nước ta, trong mối quan hệ giữa Đảng và Hiến pháp, giữa Đảng và Quốc hội như hiện nay, có thực chất đúng với danh chính ngôn thuận… Làm sao thực hiện được những ý kiến tốt này nếu không bắt đầu từ thay đổi phương thức lãnh đạo của Đảng? Tôi thừa nhận nhiều nước trên thế giới có những ví dụ rất tốt, rất đáng tham khảo; tôi cũng thú nhận bản thân mình đang rất lúng túng: biết được như thế mà chưa biết nên kiến nghị với Đảng lựa chọn giải pháp thực hiện nào khả thi nhất trong những điều kiện hiện nay của nước ta… Nhưng dứt khoát tôi tin có giải pháp, dù còn đang phải đi tìm, bắt đầu từ tìm cách đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng.
Còn những ai muốn nói chuyện chính trị salon (cũng có thể tạm gọi là nói chuyện chính trị lúc trà dư tửu hậu), tôi xin lỗi thực tình là không có thời giờ tiếp chuyện họ.
Trong những ý kiến phản hồi từ phía bạn bè thân thiết của tôi, có câu hỏi: Đảng lấy dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh làm mục tiêu, điều này sớm muộn tất yếu sẽ dẫn tới đa nguyên! Không thừa nhận tất yếu này có nghĩa là “Đảng nói zdạy mà không phải zdạy!”.
Tôi cho đây là suy nghĩ nghiêm túc. Xin tất cả suy nghĩ về ý kiến nghiêm túc này.
Tôi xin nói suy nghĩ của mình : Cuộc sống xã hội là đa nguyên, nền kinh tế đa thành phần là đa nguyên, đất nước Đảng đang lãnh đạo là đa nguyên, chỉ có hệ thống chính trị là một Đảng. Khỏi phải nói dài dòng về các yếu tố lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hóa thiết lập nên vị thế lãnh đạo một đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong hệ thống chính trị nước ta hiện nay. Dù là hệ thống chính trị có một đảng, yếu tố bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng không phải là bảo hộ vị thế độc quyền của nó, mà trước hết và duy nhất là nâng cao phẩm chất và năng lực ngày một nâng cao này, thì dù có độc quyền tới mức chuyên quyền độc đoán như thế nào chăng nữa, số phận diệt vong của nó đã được cài đặt sẵn như một lẽ tất yếu ngay trong cái chuyên quyền độc đoán này. Nguy cơ nằm trong sự cài đặt này, chứ không phải trong nguy cơ đa nguyên. Chăm lo bảo vệ và nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng sao cho luôn luôn theo kịp với đòi hỏi của nhiệm vụ mà dân tộc đặt lên vai nó. Có phẩm chất tiên phong chiến đấy này nổi trội nhất trong hệ thống chính trị và trong toàn bộ hệ thống xã hội, thì tự do dân chủ có phát triển được đến đâu chăng nữa, Đảng vẫn giữ được vai trò lãnh đạo dù sự phát triển này có dẫn tới đa nguyên đa đảng chăng nữa – Đảng vẫn giữ được vai trò lãnh đạo.
Lý lẽ còn lại chỉ đơn giản là : Một đảng mà tha hóa thì cũng mất, đa đảng mà ưu việt nổi trội thì luôn giành được vị trí lãnh đạo (Cách mạng Tháng Tám đã cho những bài học vô cùng quý báu cho vấn đề này), mà đa nguyên thì trước sau sẽ là kết quả tất yếu của dân chủ và đến một mức nào đó là đòi hỏi không thể thiếu được của phát triển. Như vậy sự lựa chọn tối ưu duy nhất cho Đảng ta là chăm lo nâng cao các phẩm chất ưu việt của mình, lấy dân chủ và phát triển để thường xuyên nâng cao hơn nữa phẩm chất ưu của mình. Nói một cách khác, ngay từ bây giờ Đảng ta đã phải chủ động chăm lo nâng cao phẩm chất và năng lực lãnh đạo của mình thuận với dân chủ và phát triển, tới một lức nào đó khi ở đất nước ta xuất hiện một hệ thống chính trị đa nguyên như một lẽ tất yếu thì đấy sẽ phải là đa nguyên do những thành quả của dân chủ và phát triển đem lại, chứ không phải là thứ đa nguyên ra đời tự phát và hỗn loạn theo các màu sắc “da cam, da quýt”. Ngay từ bây giờ người cộng sản Việt Nam cần nhận thức rõ sự phát triển mang tính quy luật này và trau giồi cho mình bản lĩnh ứng xử cách mạng nhất.
Lại vướng vấn đề “độc lập dân tộc phải gắn với chủ nghĩa xã hội”.
Lại vướng vấn đề: Như thế là ta bỏ con đường XHCN mà đi theo con đường xã hội dân chủ.
Vướng nhiều thứ khác lắm.
Song cái vướng lớn nhất là vượt qua chính bản thân mình để trung thành với lý tưởng phụng sự nhân dân, phụng sự tổ quốc, để lý tưởng cao cả của Marx dẫn dắt cuộc sống của đất nước, để Đảng trở thành đội tiên phong chiến đấu của dân tộc có đủ phẩm chất và khả năng thu phục lòng người cho sự nghiệp chấn hưng đất nước.
Trách nhiệm được ghi bằng xương máu bao nhiêu thế hệ đã ngã xuống đặt lên vai Đảng ta là phải tránh bằng được cho đất nước cảnh rơi vào hỗn loạn của đa nguyên tự phát các màu sắc “da cam da quýt”. Trách nhiệm được ghi bằng xương máu của bao nhiêu thế hệ đã ngã xuống đặt lên vai Đảng ta là phải đem lại cho đất nước một đa nguyên của dân chủ và phát triển với tính cách là thành quả của sự nghiệp xây dựng dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh. Nếu xảy ra trường hợp vin vào 19 điều quy định của Đảng để khai trừ tôi khỏi Đảng vì đã trình bày các ý kiến nói trên, trong tôi đã sẵn sàng câu trả lời: Tôi chấp nhận mọi hình thức kỷ luật sẽ dành cho tôi với suy nghĩ rằng Đảng trong tim tôi và Đảng khai trừ tôi sẽ là hai đảng khác nhau. Điều tôi lo không phải là chuyện này. Điều tôi lo là đôi khi tôi cảm thấy mình yêu nước vẫn chưa đủ tầm… Tôi có nhiều ban bè quốc tế yêu quý Việt Nam vô cùng, có thể bạn cũng biết đôi ba người trong số họ như Sybile Weber, Judith Ladinsky, André Saumier, Merle Ratner…, tận tụy đến mức đôi khi tôi tự hỏi chính mình có lẽ cũng chưa tận tụy được bằng họ cho Tổ quốc của chính mình!…
Thay cho lời kết luận: Sự công khai minh bạch
Tôi muốn làm một vài con số thống kê các ý kiến phản hồi các loại, để xem tỷ lệ ý kiến thuận/ngược về bài viết Thời cơ vàng… như thế nào, nhưng thất bại, đơn giản là ngay trong các thư điện tử tán thành nhiệt liệt nhất cũng nêu đôi điều trăn trở, lo lắng. Tôi chỉ có thể đưa ra một nhận xét chung nhất: Hầu hết các ý kiến phản hồi đều nặng lòng với đất nước, kể cả những ý kiến ngược. Ý kiến phản hồi gay gắt nhất gửi đến hộp thư của tôi là: Tác giả “Thời cơ vàng…” nhầm rồi, kẻ thù nguy hiểm nhất của ĐCSVN là dân tộc Việt Nam !
Tôi đọc đi đọc lại ý kiến này, cố tìm cho mình cái tai tốt nhất đề nghe ý kiến này.
Tôi cứ giả định người nói ý kiến này là người rất yêu nước, để xem cái tai của mình phản ứng thế nào (còn nếu là người thù nghịch với đất nước thì không thuộc vào cuộc đối thoại của chúng ta).
Tôi nghĩ, không có quyền cấm tôi vào Đảng CSVN, thì cũng không gì có quyền cấm ai đó nghĩ thuận hay nghĩa trái về Đảng Cộng sản Việt Nam . Yêu nước có nhiều cách tùy theo chính kiến và không là độc quyền của riêng ai được, vì Tổ quốc là Tổ quốc chung. Còn làm điều gì thuận hay trái với pháp luật, thì đấy là câu chuyện của pháp luật. Thế nhưng một khi để cho Đảng trở thành lực cản sự phát triển của đất nước, thì đúng là phải coi chừng tình thế được diễn tả trong ý kiến phản hồi rất gay gắt vừa nói trên.
Nhất định sẽ có chuyện cố ý bới lông tìm vết, cố ý khoét sâu vào các yếu kém tôi đã nêu trong 4 cụm câu hỏi trên, để bôi đen bôi nhọ, chọc ngoáy, để phục vụ cho những ý đồ chọc ngoáy. Tôi nghĩ rằng mình đủ từng trải để thấy trước được điều này. Nhưng thực tình tôi không xúc động đối với những việc chọc ngoáy như vậy, vì đấy là công việc và chuyện cơm bữa của những người làm nghề chọc ngoáy.
Tôi còn nghĩ rằng truyền thống cách mạng của Đảng ta dù vinh quang đến thế nào chăng nữa, cũng không thể mài lịch sử ra mà sống. Để làm được chức năng là đội ngũ tiên phong chiến đấu của dân tộc trong sự nghiệp chấn hứng đất nước, Đảng ta còn phải trang trải những gì cần trang trải trong quá khứ để giữ lấy lòng tin của tương lai. Tôi nghĩ công việc của chúng ta không phải là xúc động trước cái việc chọc ngoáy này. Chúng ta chẳng có gì phải bận tâm đến sự chọc ngoáy này. Công việc đích thực chúng ta phải làm là chiến thắng sự ươn hèn của chính mình để làm được việc lớn: Xây dựng nước Việt Nam độc lập, thống nhất dân chủ và giàu mạnh trong thế giới ngày nay.
—————————–
*Tôi e rằng đang có sự hiểu lầm khái niệm đảng cầm quyền. Khi Bác Hồ trong một dịp nào đó nhắc nhở Đảng ta là đảng cầm quyền, tôi hiểu đấy là Bác nhắc nhở đến trách nhiệm nặng nề của Đảng, khái niệm “đảng cầm quyền” ở đây có lẽ nằm trong bối cảnh tư duy của Bác nhìn nhận về hệ thống chính trị tại các nước phương Tây mà Bác đã từng sống.
*Lịch sử nhân loại đến nay chưa có Nhà nước nào trong sạch đến chân không đâu!

Trích nguồn: http://vn.360plus.yahoo.com/DONG-LA/article?mid=1154

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s