MỘT SỐ NHỮNG SỰ THẬT VỀ GIÁO HỘI LA MÃ

Lịch sử và kinh nghiệm thực tế cho thấy rằng, trong gần hai ngàn năm qua, Giáo Hội La Mã đã có   hàng rừng những chủ trương, chính sách và hành động tội ác trời không dung đất không tha, trong đó có những sự kiện mà các nhà viết sử đều phải công nhận rằng Giáo Hội La Mã:

1.- Là một quốc gia với danh xưng chính thức là the State of  Vatican City. Quốc gia này có lãnh thổ với diện tịch là 0.4 km2 hay 0.2mi2, vào năm 1995 có dân số là 900,  theo chế đô tăng lữ quân chủ toàn trị (monarchical-sacerdotal) và có chính quyền  mà hội đồng chính phủ là giáo triều Vatican (curia). 

2.- Là một đế quốc thự dân xâm lược  mà chính quyền trung ương là giáo triều Vatican và các thuộc địa là các giáo phận tại khắp mọi nơi trên thế giới. Các thuộc địa này nằm dưới quyền cai trị  của các “prelate nullius” (phó vương) mà  thông thường được gọi là “bishop” (giám mục).

3.- Theo đuổi chủ nghĩa bá quyền nhằm thống trị toàn cầu và nô lệ hóa nhân lọai bằng lý thuyết bịp bợm “Đô Thị Thiên Chúa” (City of God), và hệ thống tín lý Kitô. (Sẽ được nói rõ ở 2 Chương 3 & 4)

4.- Dùng danh xưng tôn giáo là Đạo Thiên Chúa La Mã  và Giáo Hội La Mã làm bức bình phong để che đậy dã tâm đã nêu lên trong sự kiện số 2 vả 3 trên đây.

5.- Có dã tâm sử dụng những chuyện hoang đường, huyễn hoặc, phi nhân bản phản khoa học, thiếu logic do bọn lưu manh buôn thần bán thánh người Do Thái bịa đặt ra   vào thời kỳ con người  còn ở trong tình trạng bán khai của các thời ông Moses và  ông Jesus cách đây hơn hai ngàn năm về trước để lừa bịp và lường gạt người đời

6.- Tiếp tục bịa đặt ra hàng rừng chuyện hoang đường khác như Chúa Ba Ngôi, Chúa Sống Lại rồi bay lên thiên đàng, Đức Mẹ Đồng Trinh, Nơi Luyện Ngục, bảy phép bí tích, Đức Mẹ hiện ra, v.v… để khuếch trương kỹ nghệ buôn thần bán thánh.

7.- Chủ trương thi hành chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ để kìm hãm tín đồ và người dân dưới quyền mãi mãi ở trong tình trạng ngu dốt giống như con người ở vào thời bán khai của ông Moses cách đây hơn 3 ngàn năm để  biến con người thành một đàn cừu mà Giáo Hội gọi là “đàn con chiên“.

8.- Đặt ra hệ thống giáo luật hết sức phi nhân bản, phản khoa học, nặng tính cách  võ đóan, chuyên chế nhằm giúp cho giới giáo sĩ và giai cấp thống trị tay sai  để áp bức và bóc lột tín đồ và nhân dân dưới quyền..

9.- Theo đuổi chủ  thuyết “thần quyền chỉ đạo thế quyền” với dã tâm tiếm đọat  quyền lực chính trị, thiết lập chế độ đạo phiệt Gia-tô để có thể sử dụng chính quyển làm phương tiện thi hành “chính sách bất khoan dung” cưỡng bách người dân dưới quyền phải khuất phục, phải  tin theo những tín điều Kitô  quái đản và phải tuân hành những giáo lý phi nhân của Giáo Hội.

10.- Chủ trương dùng bạo lực để tiêu diệt tất cả các tôn giáo khác và cưỡng bách nhân dân dưới quyền phải theo đạo Gia-tô.

11.- Bóp nghẹt hết tất cả các quyền tự do căn bản của con người đã được Liên Hiệp Quốc và các nước theo chế độ tự do dân chủ như ở Bắc Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản, Ấn Độ, v.v.., công nhận. Những quyền đó là tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, tự do báo chí, tự do kết hôn và giải hôn, v.v…

12.- Chủ trương hủy diệt nền tất cả các nền văn minh nào không phải là văn minh Do Thái  hay Gia-tô.

13.- Chủ trương hủy diệt tình yêu tổ quốc và quê hương trong lòng tín đồ Gia-tô.

14.- Không cho phép tín đồ có một thứ tình cảm thiêng liêng cao cả  nào có thể sánh ngang hàng với tình yêu hay lòng tuyệt đối trung thành với Tòa Thánh Vatican hay Giáo Hội La Mã. Tất cả mọi thứ tình yêu thiêng liêng giữa con người với con người như tình yêu lứa đôi trai gái, tình yêu vợ chồng, tình yêu gia đình giữa cha mẹ với con cái, giữa con cái với cha mẹ,  giữa anh em với nhau, tình thày trò, tình bạn bè, tình yêu làng xóm, tình yêu đối với tổ quốc, đối với quê hương và đối với dân tộc đều phải nhường bước cho tình yêu đối  với Giáo Hôi hay Tòa Thánh Vatican. 

15.- Trong thời Giáo Hoàng Gregory VII (1073-1085), Giáo Hội đưa ra nguyên tắc “chỉ có một mình giáo hoàng mới được đưa bàn chân ra cho các ông vua chúa hôn hít” (The Pope alone offers his foot to be kissed by princes) [i].  Nguyên tắc quái đản này làm nẩy sinh ra tục lệ  quái đản “giáo sĩ bản địa phải đến  quỳ mọp  xuông hôn hít giầy dép của giáo sĩ Âu Châu” tại địa phương [ii] và tục lệ quái đản “tín đồ  đến trước ghế ngồi của một vị giám mục quỳ mọp xuống để được ông ta đưa bàn tay có ngón đeo nhẫn giám mục ra để hít hà  hôn hít“.

16.- Cuối năm 1095, Giáo Hoàng Urban II (1088-1099) phát động cuộc chiến Thập Tự Lần Thư Nhất đem quân đí đánh chiếm  tàn  sát nhân dân vùng Trung Đông, khởi đầu cho gần chục cuộc chiến  thập tự khác tiếp theo khiến cho cả mấy chục triệu sinh linh bị sát hại.

17.- Năm 1215, trong thời Giáo Hoàng Innocent III (1198-1216), Giáo Hội  chính thức ban hành giáo luật cưỡng bách tín đồ phải đến một nơi vằng vẻ trong nhà thờ địa phương để “xưng tội” (kể lể những việc làm sai trái (theo quan niệm của Giáo Hội) với vị linh-mục quản nhiệm)  mà thâm ý của Giáo Hội là vừa để dò xét xem trong gia đình có ai là người không tuyệt đối trung thành với Giáo Hội, vừa để cho các ông linh mục quản nhiệm tại địa phương có cơ hội gã gãm” nữ tín đồ hầu  “giải tỏa tình trạng bế tắc về sinh lý và tâm lý” vốn đã bị tù hãm đã từ lâu.

18.- Năm 1232, trong  thời Giáo Hoàng Gregory IX (1227-1241), Giáo Hội cho thiết lập các Tòa Án Di Giáo (Inquisitions) với nhiệm vụ điều tra, truy lùng, tóm cổ, tra tấn và xử thiêu (xử tử bằng cách  trói  nạn nhân vào một cái cọc, rồi chụm củi khô và châm lửa thiêu sống) những tín đồ bị tình nghi là “có thái độ không tuyệt đối trung thành với Tòa Thánh Vatican“. Các Tòa Án quái đản này hoành hành ở Âu Châu ngoài lãnh thổ Tây Ban Nha cho đến khi Cách Mạng Pháp bùng nổ vào ngày 14/7/1789, và tiếp tục tác oai tác quái ở Tây Ban Nha và ở các thuộc địa của đế quốc này cho đến năm 1821. Tính ra con số nạn nhân của các Tòa Án khốn nạn này lên tới gần 100 triệu. Riêng ở Tây Ban Nha và các thuộc địa của đế quốc này cũng đã tới 68 triệu[iii].

19.- Giáo Hoàng Paul IV (1555-1559) tuyên bố : “Nếu bố tôi bị phát hiện là  giáo gian (dị giáo), tôi sẽ chịm củi đốt ông ta luôn“. Sự kiện này đưa đến việc phá vỡ nền tảng gia đình, phá vỡ tình bằng hữu, phá vỡ tình   xóm làng và quê hương bằng những hành động cổ võ và khích lệ  tín đồ làm những chuyện vô luân  như “cha con tố cáo nhau, vợ chồng tố cáo nhau, anh em tố cáo nhau, bạn bè tố cáo nhau, hàng xóm láng giềng tố cáo nhau, v.v.. trước tòa án của Giáo Hội.” [iv]

20.- Đặt ra giáo luật cưỡng bách những người thuộc các tôn giáo khác muốn lập gia đình với tín đồ của Giáo Hội thì phải từ bỏ tôn giáo cổ truyền của gia đình họ, phải học giáo lý Gia-tô và phải  rửa tội theo đạo Gia-tô rồi mới được làm lễ thành hôn ở nhà thờ.

21.- Trong thập niên 1860, thời Giáo Hoàng Pius IX (1846-1878), Giáo Hội bịa đặt ra tín lý bịp bợm “Giáo Hoàng Không Lầm Lẫn” (Papal Infallibility) để  lừa dối và lường gạt tín đồ, đặc biệt là những tín đồ đã   bị điều kiện hóa thành những “con cừu” được quản lý bởi  các ngài mang chức thánh ở trong tình trạng bất bình thường vì sinh lý và tâm lý bị tù hãm.

22.- Dùng “sách lược nội công” bằng những đạo quân thứ 5 gồm những tín đồ Gia-tô bản địa và dùng “sách luợc ngọai kích” bằng ngoai giao cho người đi thuyết phục một hay nhiều đế quốc Âu Châu hoặc siêu cường Hoa Kỷ bỏ tiền ra bao giàn cuộc chiến xâm lăng và xuất quân tấn chiếm các vùng mục tiêu làm thuộc địa để cùng quản lý, cùng thu vơ lợi nhuận, và bành trướng thế lực qua chính sách Ki-tô hóa bằng bạo lực.

23.- Dùng chính sách chia để trị: Chía các quốc gia bị chiếm  ra làm nhiều tiểu quốc theo lằn ranh  địa lý thiên nhiên, theo từng nhóm sắc tộc, và dùng tín đồ Gia-tô bản địa làm tay sai cai trị  các thành phần thuộc các tôn giáo khác, điển hình là ở Đông Dương trong những năm 1862-1954 và ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975.

24.- Đã cấu kết với Đế Quốc Tây Ban Nha trong việc tấn chiếm và thống trị Châu Mỹ La-tinh, Phi Luật Tân trong thế kỷ 16 và nhiều nơi khác vào những thời điểm khác nhau.

25.- Đã cấu kết với   Đế Quốc Bồ Đào Nha trong việc tấn chiếm và thống trị xứ Ba Tây ở Nam Mỹ và nhiều nơi khác vào nhiều thời điểm khác nhau.

26.- Đã cấu kết với Đế Quốc Pháp trong việc tấn chiêm và thống trị Đông Dương, Algeria, Marocco, Tunisia (ở Bắc Phi) và nhiều nơi khác vào những thời điểm khác nhau.

27.- Trong thập niên 1930 và trong thời Đệ Nhị Thế Chiến, đã cấu kết với Đức Quốc Xã và Phất Xít Ý đàn áp phong trào Cách Mạng Cộng Hòa tại Tây Ban Nha để củng cố chính quyền đạo phiệt Gia-tô Francisco Franco và thiết lập chế độ đạo phiệt Gia-tô Ante Pavelich tại Croatia. Chế độ đạo phiệt Gia-tô Ante Pavelich chỉ tồn tại có  hơn 4 năm (1941-1945) mà  đã tàn sát tới trên  700 ngàn  tín đồ Do Thái Giáo và Chính Thống Giáo  ở Croatia. Lúc đó  Croatia chỉ có vỏn vẹn gần 3 triệu dân.

28.- Đã chủ động  thuyết phục đế quốc Pháp tới ba lần trong việc xuất quân đánh chiếm và cùng thống trị Việt Nam từ năm 1858 đến năm 1954 để chia phần.

29.- Dạy dỗ tín đồ bản địa  rằng : “Đừng thừa nhận quyền lực Nhà Vua và luật pháp của họ“, và “Đức Giáo Hòang  ở La Mã (Rome) mới là vị vua tối cao duy nhất của họ, họ chỉ tuân phục quyền lực Tòa Thánh Vatican” [v]. Đồng thời Giáo Hội lại dạy đỗ tín đồ “phải tuyệt đối vâng lời Giáo Hội và các đấng bề trên trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội“, “Vâng lời qúy hơn của lễ” và “phải tuyệt đối trung thành với Giáo Hội La Mã hay Tòa Thánh Vatican.”,  Đây là những   lời dạy lưu manh nhất  và thâm độc nhất của Giáo Hội La Mã vì rằng chính những lời dạy này đã  nhào nặn tín đồ bản địa thành những phường vong bản phản quốc, phản quê hương, phản dân tộc. Điển hình là suốt trong chiều dài lịch sử kể từ khi đạo Gia-tô đuợc truyền vào Việt Nam từ thập niên 1530 cho đến ngày nay, tín đồ Gia-tô người Việt đã  có thái độ và hành động như thế nào, dân Việt Nam ta đều đã  nhìn thấy rõ. Sự kiện này cũng được thể hiện ra   bằng hành động của Linh-mục Hoàng   Quỳnh  khi ông ta lớn tiếng hô hào tín đồ Gia-tô người Việt rằng “Thà mất nước, chứ không thà mất Chúa” (vào năm 1964). Sự thật này đã khiến cho học giả Gia-tô Charlie Nguyễn viết bài báo có tựa đề là “Truyền Thống Phản Quốc của Công Giáo Việt Nam” đăng trên tờ Đông Dương Thời Báo sô 88 tháng 5/6 2004 nơi các trang 1, 3, 4, 5 6 & 7. (Đông Dương Thời Báo, P. O  Box  671091, Houston, Texas 77207-1091)

30.- Đã cấu kết với siêu cường Hoa Kỳ  trong sự dùng sức mạnh của Hoa Kỳ để duy trì tình trạng chia đôi Việt Nam thành hai miền Nam và Bắc cho tới ngày 30/4/1975..

31.- Trong thời 1862- 1945, Liên Minh Đế Quốc Pháp – Thập Ác Vatican đã chia Việt Nam ra làm ba miền Nam Kỳ, Trung Kỳ và Bắc Kỳ giống như ba tiểu quốc với ba thể chế chính trị và hệ thống pháp luật khác nhau,. và  ngay từ giữa thập niên 1860, Gíám-mục Puginer, đại diện của Tòa Thánh Vatican ở Đường Ngoài (miền Bắc), đã đưa ra Kế Hoạch Puginier, theo đó thì chính quyền liên minh giặc Pháp – Vatican phải “diệt tận gốc, tốc tận rế” Nho giáo và tất cả các nho sĩ Việt Nam [vi]. Cũng may là kế họach ác ôn này bị người Pháp bác bỏ.

32.- Trong Thời Kháng Chiến 1945- 1954, ngay khi vừa mới được chính quyền Charles de Gaulle thỏa thuận với Tòa Thánh  Vatican đề cử năm giữ chức vụ Cao Ủy Đông Dương, cựu Linh-mục Thierry G. d’ Argenlieu   liền tiến hành kế họach xé nước Việt Nam  ra làm nhiều mảnh,  rồi thành lập nước Công Hòa Nam Kỳ và cho ra đời chính phủ lâm thời Nam Kỳ  do Bác-sĩ Nguyễn Văn Thinh làm Thủ Tướng. Sau đó, ông cựu linh mục Cao Ủy Đông Dương này lại cho thành lập nước Cộng Hòa Tây Kỳ ở miền Nam Trung Bộ, nước Cộng HòaThái  ở miền Tây Bắc Bắc Bộ và mưu đồ thành lập nước Cộng Hòa Nùng ở miền Đông Bắc Bắc Bộ. Sự kiện này được sách Những Năm Tháng Không Thể Nào Quên của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp ghi nhận như sau:

Vài ngày sau, những vụ khiêu khích mới lại nổ ra ở dọc biên giới Việt Hoa. Mồng 10 tháng Tám (1946), quân Pháp vô cớ tiến công bộ đội ta ở Tiên Yên, Đầm Hà. Ngày 13, chúng đưa bọn thổ phỉ về đóng tại Lạng Sơn. Chúng khiêu khích đồng bào ta ở Vịnh Hạ Long và vùng ven biển Hồng Gai. Cùng thời gian này, lại có tin quân Pháp từ Sơn La tiến xuống phía nam. Không lâu trước đó, d’ Argenlieu đã để lộ ý muốn lập ngay tại miền Bắc một nước cộng hòa Nùng  Thái, cùng một kiểu với “nước cộng hòa Tây Kỳ” ở Tây Nguyên. Những hoạt động của địch cùng lúc xẩy ra chạy dài theo biên giới, từ vùng biển đến miền núi, từ Đống sang Tây, nói lên âm mưu này đang bắt đầu.” [vii]

33.- Trong những 1948-1954, Giáo Hội La Mã  cấu kết với chính quyền Pháp tách rời hai giáo khu Phát Diệm và Bùi Chu ra khỏi lãnh thổ Việt Nam rồi biến thành hai giáo khu tự trị với dã tâm là sẽ biến hai giáo khu này thành hai vương quốc Kitô  và đưa đạo Kitô La Mã lên làm quốc giáo.

34.- Năm 1954,  Giáo Hòang Pius XII (1939-1958) đề nghị và vận động chính quyền Hoa Kỳ sử dụng bom nguyên tử để giải  vây cho cứ điểm Điện Biên Phủ của liên quân giăc Pháp – Thập Ác Vatican, nhưng  không được Tổng Thống Dwight D Eiseinhower chấp thuận.

35.- Đã và đang và vẫn còn cố gắng làm thay đổi nền đạo lý tam giáo cổ truyền của dân tộc Việt Nam bằng nếp sống đạo giáo Kitô.

36.- Hiện đang triệt để sử dụng khối tín đồ Gia-tô người Việt ở cả trong nước và ở hải ngoại theo “sách lược nội công” để gây rối Việt Nam làm cho tình hình Việt Nam trở thành bất ổn bằng sách lược cố hữu của Giáo Hội là  “quậy cho nước đục để thả câu“. Việc tín đồ Gia-tô người Việt ở trong nước và ở hải ngoại đang la lối đòi tự do tôn giáo hiện nay là một trong những thí dụ điển hình.

37.- Là thủ phạm chính trong việc chế độ đạo phiệt Gia-tô của Giám-mục Augustin Misago tàn sát hơn 800,000 (800 ngàn) dân Tutsis Rwanda (Phi Châu) vào năm  1994

38.- Đã tàn sát trên dưới 300 triệu người từ thế kỷ 4 cho đến đầu thập niên 1990. Sự kiện này được sử gia Lloyd M. Graham ghi nhận trong cuốn Deceptions Myths of the Bible với nguyên văn như sau:

Chúng ta đã biết được những gì trong 7 trăm năm này? Ba triệu người  thiệt mạng trong vụ cố gắng chiếm lại một ngôi mồ nằm trong vùng kiểm soát của người Hồi giáo. Mười triệu người bị giết hại do bàn tay của các Tòa Án Dị Giáo Gia-tô  Mười bốn triệu người chết trong các cuộc chiến Gia-tô trong thế kỷ thứ 19. Ba mươi triệu người thiệt mạng trong các cuộc chiến giữa các quốc gia theo đạo Kitô với nhau trong hai thập niên đầu của thế kỷ thứ 20. Từ thời Constantine đến nay, chiến tranh và chính sách áp bức của các chế độ đạo phiệt Gia-tô đã gây cho hơn 200 triệu nạn nhân bị thiệt mạng. Và chúng ta phải kể thêm 23 triệu  quân nhân của 53 quốc gia và các thuộc địa đã hy sinh trong các cuộc chiến (do Giáo Hội phát động – NMQ ) và ít nhất 28 triệu nạn nhân chết  vì bom, đạn, đói và bệnh tật hay ở trong các trại tập trung.”  [What have we learned in those seven hundred years? “Three million lost their lives in a futile attempt to rescue a tomb from Mussulmans. Ten million were slain during the Inquisition. Fourteen million were slain in Christian wars of the Nineteenth Century. Thirty million lost there lives in wars between Christian nations during the first two decades of the Twentieth Century. Wars, tyranny and oppression of Christian nations since the days of Constantine have caused the death of more than 200,000,000 people”  And now we must add to this “Some 23,000,000 men in uniform from 53 nations, countries and dominions were killed or died; at least 28,000,000 died from bombs or guns, hunger or disease or in the concentration camps.) [viii]

Sách Deceptions and Myths of the Bible được phát hành vào năm 1999, sách dầy gần 500 trang. Rất có thể tác giả đã mất nhiều năm sưu tầm và tham khảo tài liệu để biên soan tập sách trên đây. Công việc biên sọan, đọc lại bản thảo, sửa chữa những sai lầm và bổ túc những thiếu sót  mất rất nhiều thì giờ. Cũng vì thế mà rất có thể những biến cố xẩy ra từ đầu thập niên 1990 chưa được cho vào trong sách này. Nếu như vậy thì con số khoảng 800.000 (800 ngàn) người ở Rwanda  bị chế độ đạo phiệt Gia-tô của Giám-mục Augustin Misago tàn sát  vào giữa năm 1994 và con số khoảng hơn 7.000 (bẩy ngàn) người  (đa số là tín đồ Hồi giáo) bị chế độ đạo phiệt Serbia ở Bosnia tàn sát vào năm 1995 không được kể vào trong sách này.

Trên đây chỉ là một vài con số trong những khu rừng chủ trương, chính sách và hành động tội ác chống lại nhân loại của Giáo Hội La Mã.

PHẢN ỨNG CỦA NHÂN DÂN THẾ GIỚI

Cũng vì những khu rừng tội ác này mà  nhân dân Âu Châu khiếp sợ Giáo Hội và tránh xa như tránh hủi” [ix],  văn hào Voltaire gọi Đạo Thiên Chúa La Mã  là “cái tôn giáo ác ôn” [x], học giả  Gia-tô Henri Guillemin gọi Giáo Hội La Mã là “Cái Giáo Hội Khốn Nạn” (Malheureuse Église) [xi], học giả Gia-tô Charlie Nguyễn gọi đạo Gia-tô là “đạo dối“, “đạo bịp“,  “đạo máu” [xii] , và hầu như toàn thể nhân dân thế giới đều đã quyết tâm chống lại Giáo Hội đến cùng. Dưới đây là  một số trong những bằng chứng cho sự thật này:

1.- Giáo Hội Chính Thống (Orthodox) ở Hy Lạp,  Nga và các vùng bờ biển phía Đông Địa Trung Hải cắt đứt quan hệ thân thiết với Giáo Hội vào năm 1054. Sự kiện này được Linh-mục Bùi Đức Sinh, một cán bộ truyền giáo trong bộ máy tuyên truyền của Giáo Hội La Mã, viết trong bộ sách Lịch Sử Giáo Hội Công Giáo với nguyên văn như sau:

Thêm vào đó, sự lỗi lầm và thiếu không ngoan của La Mã. Tháng 3 năm 1054, Đức Hồng Y Humbert, một nhà thần học và là người thân tín của Đức Leo IX (1049-1054), dẫn đầu Sứ Đoàn Tòa Thánh sang Constantinopoli. Trong 4 tháng lưu lại kinh đô, sứ đòan mất nhiều thời giờ vào các cuộc tranh luận, chỉ trích luật hôn nhân và ít nhiều điểm khác của Giáo Hội Hy Lạp: “Vậy thì chỉ có các ông là thánh thiện hơn mọi người sao?” Sứ đoàn làm bộ chỉ biết có hòang đế, dùng những danh từ chua cay nhất mỗi khi nói đến Thượng Phụ Giáo Chủ, trong khi vị này phủ nhận quyền của sứ đoàn. Giữa lúc đó, Đức Thánh Cha Leo IX qua đời ngày 19 tháng 4 (1054). Sứ đoàn tiếp tục công việc và kết thúc bằng một hành động bất ngờ : Hôm ấy là một ngày thứ bảy 16/7/1054, chính lúc một Thánh Lễ bắt đầu cử hành tại Thánh Đường Đấng Khôn Ngoan, sứ đoàn đặt trên bàn thờ một bản án đã viết sẵn phạt vạ tuyệt thông Micae Cerula, phủi bụi giầy và đi khỏi.

 Với thái độ quá thẳng thắn này, sứ đòan trưởng sẽ gây cho giáo dân Hy Lạp một cảm kích  sâu xa. Nhưng Humbert đã quên rằng không nên đối xử với vị thương phụ của giáo hội lớn như vậy, cho dầu vị này có lỗi đi nữa. Sứ đòan không ngờ sự thiếu khôn ngoan đó sẽ làm cho người Byzantine bực tức và giận bỏ luôn. Từ đấy, Cerular tha hồ khai thác sự giận dữ của giáo dân và giáo sĩ, làm tiêu tan mọi cố gắng của Hòang Đế Constantin IX trong công cuộc hòa giải, sau cùng ông lôi cuốn được một số giáo chủ khác. Đó là hậu quả của một hành động cộc cằn của người Đức do Đức Leo IX cử đi! Người ta có thể phàn nàn Đức Thánh Cha đã không không dùng một người Ý, tức người La Mã “chính cống” thường mềm giẻo và khéo léo hơn, và như vậy chắc chắn đã không phạm một lỗi lầm như thế, để tạo cho Micae Cerular có cơ hội đứng lên làm “kẻ trả thù” cho Giáo Hội Đông Phương.” [xiii]

2.- TẠI ĐỨC.- Phong Trào Tin Lành Martin Luther  ở Đức bùng lên  và chống lại Giáo Hội La Mã vào năm 1519 và lan tràn khắp Âu Châu kể từ đó.

3.- TẠI ANH.- Quốc gia này cũng chính thức chống lại Tòa Thánh Vatican và cắt đứt quan hệ với Giáo Hội  La Mã từ đầu thập niên 1530. Sự kiện này được học giả Charlie Nguyễn ghi nhận như sau:

Sự can thiệp mạnh mẽ của chính quyền, bao gồm cả hòang đế và Nghị Viện Anh quốc, đã biến đổi Công Giáo là một tôn giáo lệ thuộc La Mã trở thành Kitô giáo của dân tộc Anh” nên đuợc gọi là Anh Giáo (Anglicanism). Bằng Đạo Luật về Chủ Quyền Tối Thượng (The Act of Supremacy) ban hành ngày 1 tháng 2 năm 1535, Nghị Viện Anh quốc xác nhận  hoàng đế Anh đứng đầu Giáo Hội Công Giáo Anh, có toàn quyền quản trị tài sản của Giáo Hội Anh và có quyền bổ nhậm các giám mục. Hòang dế Anh có quyền ra lệnh giải tán hội đồng giám mục do Vatican đã bổ nhiệm trước đó và giải tán tất cả các dòng tu trực thuộc quyền lãnh đạo của La Mã. 

Trường hợp Công Giáo Anh quốc tách rời khỏi ách thống trị của Vatican vào năm 1535 là một thí dụ điển hình về sự can thiệp cần thiết của chính quyền để đưa đến một biến chuyển quan trọng trong Giáo Hội Công Giáo. Người Anh đã sớm nhận ra bản chất đế quốc của Vatican, và chính quyền Anh đã đi hàng đàu trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia bằng cách dứt khoát đoạn tuyệt với Vatican.” [xiv].

4.-TẠI NHẬT BẢN.- Cuối Thế kỷ 17, dân tộc Nhật phát động cuộc chiến chống đạo Gia-tô, hàng triệu tín đồ Gia-tô người Nhật bị sát hại vì tội phản quốc. Nhờ vậy mà nước Nhật tránh được cái đại họa Gia-tô như ở Việt Nam.

5.- TẠI TRUNG HOA.- Thế kỷ 18, nước Trung Hoa, vua Khang Hy (1662-1722), mặc  dù lúc đầu có thiện cảm với các nhà truyền giáo Gia-tô, những rồi cũng phải “ban hành  một sắc lệnh đuổi tất cả những tu sĩ Kitô giáo” ra khỏi lãnh thổ Trung Hoa. Nhờ vậy mà Trung Hoa thóat khỏi cái đại họa Gia-tô.

6.- TẠI PHÁP.- Ngay sau khi Cách Mạng Pháp bùng nổ vào ngày 14/7/1789, chính quyền Cách Mạng tiến hành sử dụng biện pháp mạnh để đối phó với Giáo Hội:

Tịch thu toàn bộ tài sản của Giáo Hội trên tòan thể lãnh thổ Pháp,

Tước bỏ mọi đặc quyền đặc lợi mà các chế độ đạo phiệt Gia-tô từ vua Louis 16 (1754-1793) trở về trước đã biệt đãi cho Giáo Hội và  giai cấp  giáo sĩ cùng giới quý tộc, trong đó có đặc quyền của Giáo Hội được thu  thuế thập phân 

Ban hành “Hiến Chế Dân Sự Dành cho Giáo Sĩ” (Civil Constitution of the Clergy)  đòi hỏi họ phải tuyên thệ  tuân hành những điều luật  ghi trong hiến chế.

Thẳng tay trừng trị những giáo sĩ và tín đồ Gia-tô có những hành động phản quốc và chống lại Cách Mạng. Con số giáo sĩ, nữ tu và tín đồ Gia tô bị đưa ra pháp trường đền tội phản quốc được cựu giáo sĩ Malachi Martin ghi nhận trong sách The Decline And Fall  Of The Roman Church như sau:

Trước hết, nước Pháp mà Giáo Hòang Pius VI (1775-1799) thường gọi là “người trưởng nữ của Giáo Hội” xóa bỏ toàn bộ tôn giáo, đưa nhà vua lên đọan đầu đài, chính thức tôn vinh thần Lý Trí lên ngôi chí tôn, tàn sát 17 ngàn linh mục, 30 ngàn nữ tu và 47 giám mục,   tất cả các tu viện, các dòng tu và các trường học của Giáo Hội đều bị giải thể, tất cả các thư viện của Giáo Hôi đều bị thiêu rụi,  chính quyền Paris còn ban hành quyết định ra lệnh cho Tướng Bonaparte (Sau này là Hòang Đế Napoléon I) “đem quân đi “giải phóng nước Ý”, “có toàn quyền hành động” “hủy diệt Rome và chế độ Giáo Hòang”. Tháng 5 năm 1796, trước khi tiến vào kinh thành Rome, Tướng Bonaparte  tuyên bố, “Chúng tôi là những người bạn của con cháu Brutus (một anh hùng của dân tộc La Mã) và dân Scipios….  Chủ định của chúng tôi là phục hồi điện Capitol và giải phóng nhân dân La Mã thóat khỏi thân phận nô lệ tôi đòi.”

Quân Cách Mạng Pháp tiến chiếm kinh thành Rome và nước Ý. Hòa Ước Tolentino được ký kết giữa Tướng Bonaparte và  Giáo Triều Vatican. Đây là một sự sỉ nhục cho Tòa Thánh Vatican. Giáo Hội phải nộp cho nước Pháp một khoản tiền là 46 ngàn đồng scudi (tiền Vatican) trả làm ba hạn kỳ (Giáo Hòang Pius VI phải đem  các đồ trang trí bằng vàng và bằng bạc ra đúc tiền để trả cho Pháp), 100 món đồ nghệ thuật và 500 tác phẩm hiếm bị tịch thu mang về Pháp; tất cả các hải cảng nằm trong lãnh thổ của Tòa Thánh Vatican phải mở cửa cho hạm đội  Pháp làm căn cứ trú quân, phải từ bỏ tất cả tài sản của Giáo Hội ở trong lãnh thổ các nước Ý, Pháp, Naples, và Sicily … tất cả mọi nơi. Giáo Hoàng Pius VI ((1775-1799)  than thở, “Hòa Ước! Tệ quá đi! Quân đội Pháp chiếm đóng Vatican và Quirinal, truất phế  Giáo Hoàng Pius VI  và thiết lập nước Cọng Hòa La Mã….”

(“First, France, “eldest daughter of the church “he used to call it, abolished all religion, beheaded its king, enthroned Reason officially as supreme deity, massacred over 17,000 priests and over 30,000 nuns as well as forty-seven bishops, abolished all seminaries, schools, religious orders, burned all churches and libraries, then sent the Corsian Bonaparte  to liberate Italy and Rome” “Just as you please,” wrote the Paris government to the Corsian. “Destroy Rome and the papacy utterly ” “We are the friends of the descandants of Brutus and the Scipios… Our intention is to restore the Capitol to free the Roman people from their long slavery,” The Corsian declared in May 1796, just before taking Rome.

Then the capture, and the humiliation of the Peace of Tolentino between the   papacy and the Corsian: a ransom of 46,000 scudi in three installement (Pius melted down all available siver and gold ornaments); 100 objects d’art and 500 rare manuscripts from Vatican; the opening of all papal  harbors to the French fleet; renunciation of all property in Italy and France and Naples and Sicily – everywhere. “They made us their prisoner Spina,” mutters Pius. “Peace treaty! Bah!” The Vatican and Quirinal were occupied by French troops. They deposed Pius, and created  the  republic of Rome....”) [xv]

7.- TẠI Ý ĐẠI LỢI.-  Theo gương nước Pháp, năm 1870 nhân dân  Ý Đại Lợi cũng vùng lên làm cách mạng đạp đổ bạo quyền Gia-tô của Tòa Thánh VaticanNgày 19/ 9/1870, quân đội Cách Mạng Ý đem đại bác nã vào Tòa Thánh Vatican khiến cho Giáo Hòang Pius IX (1846-1878) phải kéo cờ trắng  đầu hàng, toàn thể lãnh thổ  của các tiểu quốc gọi là “Papal States” dưới quyền  trực trị của Tòa Thánh Vatican bị quốc hữu hóa và sáp nhập vào lãnh thổ quốc gia Ý,  lãnh thổ của Tòa Thánh Vatican chỉ còn thu gọn lại một vùng đất nhỏ hẹp vào khỏang 480 ngàn thước vuông. Sự kiện này đước sách Rich Church Poor Church viết:

Ngày 19 tháng 8 năm 1970, quân đội Pháp lo bảo Vệ Tòa Thánh Vatican thực sự rút lui vĩnh viễn. Trận đánh Sedan vào ngày 2 tháng 9 năm đó   đã làm cho đế quốc của Hoàng Đế Nã Phá Luân Đệ Tam hoàn toàn sụp đổ. Tòa Thánh Vatican mất đi một thế lực bảo vệ cuối cùng, và nước Pháp, “người trưởng nữ của Giáo Hội La Mã” kể từ năm 1871 đến năm 1940 đã phải thay đổi đến 99 nội các. Quân Pháp vừa mới rút lui, tức thì, ngày 19 tháng 9, quân đội quốc gia Ý Đại Lợi tiến vào kinh thành La Mã và đóng quân ở ngay chung quanh cổ thành Leonine. Ngày hôm sau (20/9), sau khoảng ba tiếng đồng hồ nã đại pháo vào  trong Tòa Thánh và cận chiến lẻ tẻ, vào lúc 9:30 sáng, Giáo Hoàng ra lệnh kéo cờ trắng ở trên nóc nhà thờ  St. Peter. Mười phút sau đó, không còn nghe thấy tiếng súng nữa. Quân đội Cách Mạng Ý Đại Lợi tiến vào trong kinh thành và chiếm đoạt hết tất cả của cải trong đó, chỉ có Ngọn Đồi Vatican là họ không rớ tới. Quốc Gia của Giáo Hòang không còn tồn tại nữa. Diện tích của quốc gia này từ 16 ngàn dặm vuông bị cắt xén,  còn lại chỉ có 480 ngàn mét vuông kể cả ngọn Đồi Vatican và xung quanh ngọn đồi này trong đó có nhà thờ St. Peter, các tòa nhà phụ cận và các khu vườn Vatican ở gần đó. Hôm sau, ngày 21 tháng 9, Giáo Hoàng Pius IX (1846-1878) viết  một lá thư ngắn ngủi cho người cháu:

Cháu yêu quý:

Tất ca đã hết rồi. Không có tự do, không thể nào quản lý được Giáo Hội. Hãy cầu nguyện cho ta và cho tất cả các con. Ta chúc phúc cho các con.”

“On August 19, 1870, the protecting French troops withrew definitely. With the battle of Sedan on September 2, the empire of Napoléon III came to an end. The papacy had lost its last defender, and France, the “eldest duaghter of the Church” was to have an astounding 99 goverments between 1871 and 1940. Immediately the Italian nationalist troops march on Rome. They encamped around the old Leonine walls of Rome on September 19. The following day, after some three hours of artillery barrage and sporadic hand-to-hand fighting, the pope ordered the white flag to be raised above the dome of St. Peter at 9:30 A.M. Ten minutes later, all firing had ceased. The Italian troops entered the city and took possession of it all, leaving Vatican Hill untouched. The papal State had ceased to exist. Its 16,000 square miles were now reduced to 480,000 square meters on and around Vatican Hill where St. Peter’s it adjoining buildings, and the Vatican gardens were clustered. The next day, September 21, Pius IX (1846-1878) wrote a short note to his nephew:

Dear Nephew, all is over. Without liberty, it is impossible to govern the Church. Pray for me, all of you. I bless you. Pius P. IX.” [xvi]

Trong thập  niên 1970, quốc hội Ý lại  quyết định cho vào hiến pháp điều khoản công nhận quyền tự do tôn giáo của nhân dân. Cũng vì thế mà ngày nay, khi Giáo Hoàng đưa ra những lời lẽ trịch thượng nói về cái thế thượng đẳng của Ki-tô giáo là bị người dân Ý thuộc các tôn giáo khác lên tiếng phản đối và đưa đến pháp đình xử lý. Bản tin dưới đây nói lên sự kiện này:

“LA MÃ: Giáo Hòang, các hồng y bị một người Hồi giáo kiện trước tòa án..- Hôm Thứ Bảy (27/2/2004), một tín đồ Hồi giáo người Ý nộp đơn kiện giáo hoàng, một hồng y chóp bu và nhiều viên chức khác của Giáo Hội vì các ông này đã đưa ra những lời nhận xét trịch thượng nói về cái thế thượng đẳng của đạo Gia-tô, nhận xét như vậy là vi phạm hiến pháp của nước Ý đã công nhận mọi tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Ông Adel Smith nói rằng ông chỉ mong được tòa  lên án những lời nhận xét trịch thượng trên đây, chứ không đòi tiền bồi thường hay trừng phạt những thiệt hại khác. Ông Smith là hội trưởng Liên Hội Tín Đồ Hồi Giáo ở Ý. Trước đó, ông đã làm sôi nổi dư luận do việc nộp đơn yêu cầu tòa án ra lệnh tháo gỡ cây thánh giá ở trong lớp học của người con trai của ông.” (“ROME: Pope, cardinals sued by Muslim activist.-: A Muslim activist sued the pope, a top cardinal and other church officials Saturday, claiming their comments about the superiority of Christianity violated the Italian constitut (còn nữa)

Nguyễn Mạnh Quang

Advertisements

One response

  1. Cứ nhìn cái kiểu LM Lợi không ngại lôi đời tư của Đ.Ô Dung ra cho bàn quan thiên hạ ngắm nghía, dè bỉu, sau đó viết thư xin lỗi… thì thấy sự háo chiến như thế nào. Thực tình mà nói, tôi có nhiều người bạn là người công giáo, nhưng không phải ai cũng ghét CS và thù hận như kiểu LM Lợi, LM Giải. Họ luôn tâm niệm lời Chúa dạy “tốt đời đẹp đạo” và nhiều LM Việt Nam cũng tâm niệm và chăn dắt con chiên theo chân lý đó. Đáng tiếc là có một số LM như LM Khải, Kiệt, Phụng, LỢi, Giải, Lý… không nằm trong số đó.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s