Ý kiến về Kiến nghị 72

Hiến Pháp là văn bản pháp lý cao nhất, là mẹ của mọi bộ luật. Hiến Pháp chú trọng trên quyền, lợi ích quốc gia dân tộc, sự toàn vẹn của lãnh thổ, quyền lợi ích của người dân, phải do dân và vì dân. Hiến pháp cần xác định mục tiêu trước hết là để bảo đảm sự an toàn, tự do và hạnh phúc của mọi người dân thí dụ như các quyền về sở hữu, tự do ngôn luận, xuất bản báo chí, hội họp, cư trú, biểu tình… đi kèm vào đó là các bộ luật tương ứng; đảm bảo các quyền tự do cá nhân nhưng trong khuôn khổ nhất định, không phải thứ tự do vô chính phủ, vô tổ chức, xem thường tính mạng người khác hay xem thường pháp luật. Tạo điều kiện cho xã hội phát triển ổn định theo một trật tự đúng đắn vì tự do, dân chủ, vì hòa bình, tiến bộ của dân tộc Việt Nam và phù hợp với Tuyên Ngôn Liên Hiệp Quốc về Nhân quyền năm 1948 và các hiệp ước nhân quyền của quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết.

Hiến Pháp phải được toàn dân phúc quyết và đảm bảo tính bền vững, bao trùm của nó, đảm bảo xây dựng một nhà nước pháp quyền. Bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân. Xây dựng một thể chế chính trị, cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước dựa trên ý chí chung của nhân dân, thể hiện sự đồng thuận của nhân dân. Những người lãnh đạo đất nước phải đủ đức, đủ tài do nhân dân bàu ra, không phải theo kiểu hiệp thương hay chia nhau ghế… Việc đưa ra “Sửa đổi Hiến Pháp lần này” đảm bảo cho sự tồn tại, vượt qua khó khăn, phát triển đất nước hiện tại và cho sự lớn mạnh của Việt Nam tương lại.

Xin ý kiến nhỏ với “Bản dự thảo Hiếp pháp 2013 trong Kiến nghị sửa đổi hiến pháp 1992 gồm 72 trí thức (hay gọi Kiến nghị 72) do nguyên Bộ trưởng Tư pháp – TS Nguyễn Đình Lộc đại diện ký tên gửi cho UB soạn thảo sửa đổi Hiến pháp được nhiều người chú ý, và sau thời gian vận động đã được hơn 5000 người ký tên ủng hộ. Thiết nghĩ, tại sao khi các vị này đang đương chức, đương quyền thì không thấy ý kiến, ý cò gì?, nay đã hạ cánh an toàn thì lại “sợ bị lãng quên” hay “không còn gì để mất” nên mới “giám” lên tiếng. Nhưng Kiến nghị 72 với dự thảo của các vị sẽ không khả thi.

 Lý do:

1 Dù rằng Khiến nghị 72 do nguyên Bộ trưởng Tư pháp – TS Nguyễn Đình Lộc đại diện ký tên, nhưng trên thực tế Nguyễn Phước Tương đứng đầu khởi xướng, chủ trò (một cựu đảng viên CS, là người tham mưu cho ông TTg Võ Văn Kiệt) lập ra “Đảng nhân dân hành động” của Nguyễn Sỹ Bình ở Mỹ (là đảng con của đảng CSVN), “Đảng nhân dân hành động” đã có công lớn trong việc lôi kéo người Việt từ trong nước, hay ở Campuchia cũng như các nước có tư tưởng chống cộng vào tham gia và sau đó báo cho Công an Việt Nam “làm thịt”, đưa họ vào tù (điều này đã được chính ông Nguyễn Gia Kiểng đứng đầu Tập hợp dân chủ đa nguyên ở Pháp khẳng định). Vì người “chủ trò Kiến nghị 72” là ông Tương Lai (mới chỉ hàm “Phó giáo sư” nhưng trên công luận ông ta luôn tự xưng là “Giáo sư”) với bản chất là người thích khoe khoang, thích thành tích, muốn nổi tiếng và không thoát khỏi “lợi ích cá nhân”, có nhiều người còn cho ông là “gáo hư” và chính ông ta là con rối, giúp chính quyền cọng sản “vỗ mõm trí thức” theo kiểu “khổ nhục kế” vì sự tồn tại của chế độ chính trị Việt Nam… và việc có tới 5000 người ký tên thì chỉ tham gia theo kiểu “hội chứng đám đông”.

2 Thêm vào những người ký tên là nhân sĩ trí thức thì trong đó không ít người có tư tưởng bất mãn (chủ yếu nhóm IDS cũ) thuộc nhóm chủ xướng (nhóm này bị dị ứng, nhảy “tưng tưng” khi bị Thủ tướng Nguyễn Tân Dũng dẹp “IDS- ban nghiên cứu tốn tiền nhưng vô ích” và họ bị mất đi một nguồn bổng lộc đáng kể nên tìm cách phá bĩnh), có người nhân xét sự quấy phá của nhóm IDS là “những con chó phản chủ”mục đích là “ chơi TTg Nguyễn Tân Dũng” để trả thù. Kiến Nghị 72 vẫn mang tính chung chung, còn rất nhiều ngộ nhận trên những điểm rất cơ bản, không giải quyết được vấn đề “hòa giải, hòa hợp dân tộc”, không đoạn tuyệt với quá khứ thì không thể thu hút nhân tài hải ngoại.

Tuy nhiên tình trạng “gây tiếng vang” trong Kiến nghị 72 chỉ là hình thức, vì các yêu cầu không khả thi, không thể xảy ra trong thời gian tới như: Xóa bỏ Điều 4, yêu cầu Đa nguyên đa đảng, xây dựng thể chế chính trị Việt Nam theo kiểu Mỹ (Tổng thống), đổi tên nước, phi chính trị hóa Quân đội. Do vậy, dù có đưa kiến nghị thế nào thì thực tế “vũ như cẩn”.

3 Kiến nghị 72  không phù hợp với tính chất, tình hình xã hội Việt Nam, những chọn lựa cho tương lai không khả thi chỉ mang tính giật gân, nhưng trong vòng luẩn quẩn.Việc yêu cầu xóa bỏ điều 4 Hiến pháp là một động thái độ để gây tiếng vang xem mình dũng cảm nhưng không phải là sự thật vì họ chỉ giám lên tiếng khi chính quyền đã tuyên bố cho phép đóng góp mọi ý kiến, không giới hạn kể cả ý kiến bỏ điều 4, tứ là “nói vậy nhưng không phải vậy”. Trong những vị ký kiến nghị thì đông đảo là những cựu đảng viên, những người này đã từng giữ những chức vụ quan trọng trong guồng máy đảng và nhà nước, các vị này đang hưởng rất nhiều bổng lộc của chính quyền. Dù công khai kêu gọi bỏ điều 4 nhưng thực tế là “rung chuông báo động” nguy cơ mất quyền lãnh đạo của đảng và đề nghị một chế độ dân chủ nhưng vẫn không bỏ được bản chất cố hữu của họ vì “sợ mất sổ hưu”. Kiến Nghị 72 vẫn mang tính chung chung, còn rất nhiều ngộ nhận trên những điểm rất cơ bản, không giải quyết được vấn đề “hòa giải, hòa hợp dân tộc”, về những khái niệm chính trị, cũng như về những chọn lựa cho tương lai.

– Qua Kiến nghị 72 cho thấy bản Dự Thảo Hiến Pháp 2013 nóng vội, có nhiều người cho là hời hợt, dài dòng và thiếu thuyết phục, mang nặng tư tưởng cá nhân công thần và bất mãn. Sự lựa chọn “chế độ chính trị” là “chế độ Tổng Thống” cũng rất ấu trĩ. Vì tình hình chính trị Việt Nam lúc này đang phức tạp, kinh tế khó khăn, nghèo nàn. Tư tưởng vẫn còn mang tính làng xã, dòng tộc, chưa phát huy được tính dân chủ, hiểu biết về xã hội dân sự chỉ được biết đến tính theo đầu ngón tay của một số trí thức. Một xã hội mang nặng truyền thống Á Đông như vậy thì đòi lập nên một chế độ “Tổng thống” thì cũng như không, chỉ là “Bình mới, riệu cũ”, vẫn là tập trung quyền lức và lợi ích cho nhóm người của Tổng thống. Chính vì vậy, Việt Nam không thể thể theo mô hình của Mỹ. Việt Nam chưa hình thành xã hội dân sự theo tiêu chí phương Tây nhằm thực hiện mục tiêu thay đổi chế độ XHCN bằng biện pháp “bất bạo động”, “phi vũ trang. Hiện nay, chưa thể “phi quân sự hóa chính trị” và Hoa Kỳ và một số nước Phương Tây chưa thể dùng vũ lực can thiệp vào vấn đề chính trị Việt Nam. Do đó, lợi dụng sự kiện “Sửa đổi Hiến pháp” trên làm phương thức tập hợp lực lượng đấu tranh công khai để đưa ra những kiến nghị nhằm thay đổi thể chế chính trị Việt Nam sẽ không khả thì tại thời điểm này và cả trong tương lai gần (tạm tính cho đến thời điểm các vị trí thức hàng đầu trong Kiến nghị 72 về chầu Diêm Vương).

Hiện tại, tuy trong nội bộ Đảng CS có không ít đảng viên xuống cấp về đạo đức, lối sống, xa rời nhân dân, tạo nên nhóm lợi ích, dẫn đến làm mất lòng tin của dân và ở mức độ nào đó đã cản trở sự phát triển xã hội. Đồng thời, đòi “Đa nguyên đa đảng” nhưng thực chất chỉ nhằm “hợp thức hóa” Đảng “Nhân dân hành động” mà ông Tương Lai có công lập ra, đây cũng thể hiện sự ham muốn quyền lực của ông ta. Tuy nhiên, thực tế lúc này tại Việt Nam chưa thể đa nguyên, đa đảng, vì chưa một tổ chức chính trị, xã hội nào có đủ tư cách để thay thế sự lãnh đạo độc tôn của Đảng CS và Đảng CS vẫn không chịu chia sẻ quyền lực. Như vậy  nếu có đa đảng thì Đảng NDHĐ vẫn nằm trong sự điều chỉnh của Đảng CSVN, nếu không phải như thế thì chính các ông “trí thức hay trí ngủ” đang “mơ giữa ban ngày”.

– Do đó, tôi nghĩ đóng góp ý kiến cho “sửa đổi Hiến Pháp 1992” lần này sẽ được chính quyền Việt Nam chấp nhận và sửa đổi để phù hợp với tình hình thực tế và phù hợp với thế giới cũng như cho tương lai Việt Nam chứ chưa đề cập đến thay đổi thể chế chính trị. Sửa đổi Hiếp Pháp lần này sẽ làm rõ và thực thi những vấn đề cơ bản về “quyền con người”, “sở hữu tư nhân”, “sở hữu toàn dân”, “vai trò của ĐCS”… Vấn đề chịu trách nhiệm của những “đầy tớ nhân dân” sẽ được chú trọng.. điều chỉnh để tránh sự lạm quyền nói chung và cán bộ, cơ quan công quyền và tăng thêm các quyền giám sát của nhân dân cho phù hợp tình hình chính trị Việt Nam.

Xin chào 72 trí thức (trong đó có không ít trí ngủ). Vài lời ý kiến, mong sao các vị đừng “đứng tim” khi không thấy Kiến nghị 72 được thực hiện.

            Bình An

Vào 08:37 Ngày 01 tháng 2 năm 2013, Nguyen Quang Duy <duyact@yahoo.com.au> đã viết:

Quý Bạn Đọc thân mến,
Bài mới xin được gởi đến quý vị mong được phổ biến rộng rãi.
Nguyễn Quang Duy

Bùi Tín Vẫn Tù Mù Về “Chủ Nghĩa Mác”.
Nguyễn Quang Duy
Trong bài mới “Hai từ dùng nhiều, lại tù mù nhất”, nhà báo Bùi Tín cho biết trong một “giáo trình chính trị quốc tế” có kiểu: “Chủ Nghĩa Xã Hội – Dân Chủ, do một số đảng Xã hội – Dân chủ như ở Bắc Âu thực hiện, vận dụng chủ nghĩa Mác để phân tích chủ nghĩa tư bản, nhưng dứt khoát bác bỏ chủ nghĩa Lênin, chủ nghĩa Stalin và chủ nghĩa Mao, nhấn mạnh dân chủ đa nguyên để luôn có cân bằng, ganh đua, thay thế, đặc biệt chú trọng nền pháp quyền dân chủ và Nhà nước phúc lợi, để toàn dân được hưởng thành quả phát triển, nhấn mạnh đến tính công khai minh bạch, chống lãng phí tham ô có hiệu quả. Đây còn gọi là nhà nước phúc lợi, chú trọng hạn chế người quá giàu, giảm nhanh số người nghèo, quan tâm thật sự người già yếu, neo đơn, thất nghiệp, tàn tật, chú trọng dạy nghề, công tác từ thiện, san sẻ giúp đỡ, tương trợ trong xã hội.
Không biết “giáo trình chính trị quốc tế” mà Bùi Tín dựa trên do ai sọan, ai ấn hành và vì mục đích gì, có điều đọan văn trên chứa “ít hơn” một phần ba sự thật.
Thay đổi suy nghĩ con người thực khó. Bùi Tín đã sống ở Tây Âu trên 20 năm, nhưng cách suy nghĩ của ông vẫn còn mang nặng “chủ nghĩa Mác” để nhận định một cách thiếu đúng đắn về căn bản phát triển xã hội Bắc Âu.
Diễn văn nhậm chức của Tổng thống Barack Obama
Sau khi đọc bài của Bùi Tín, người viết lại được đọc bài Diễn văn nhậm chức của của Tổng Thống Obama, ngay lời mở đầu ông đã nhắc lại lập trường lập quốc Hoa Kỳ như sau: “Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền Sống, quyền được Tự do và mưu cầu Hạnh phúc.” Trong suy nghĩ của Bùi Tín nhà nước Bắc Âu là một nhà nước phúc lợi kiểu Xã Hội Chủ Nghĩa vận dụng chủ nghĩa Mác, còn nhà nước Hoa Kỳ là một nhà nước Tư bản. Thực ra cả hai đều là hai nhà nước Tự Do, có khác là mức độ khác biệt giữa Tự Do và Bình Đẳng tại mỗi quốc gia.
Trong bài diễn văn ông Obama, người viết đặc biệt quan tâm đến đọan văn: “Chúng ta trung thành với lập trường lập quốc của chúng ta khi một bé gái sinh ra trong cảnh bần cùng biết rằng cô ấy có cùng cơ hội thành công như bất cứ ai khác bởi vì cô ấy là một người Mỹ, cô ấy tự do, và cô ấy bình đẳng không chỉ trong mắt Thượng Đế mà còn trong mắt của chính chúng ta.” Đọan văn bộc lộ sự khiếm diện và sai lầm chủ yếu của chủ nghĩa Mác, chỉ chú tâm đến giai cấp mà quên đi con người trong xã hội. Người lãnh đạo xã hội tự do như Tổng Thống Obama phải luôn quan tâm đến con người trong xã hội, bất luận họ thuộc tầng lớp giai cấp nào.
Tự Do và Bình Đẳng
Xã hội hình thành từ những cá nhân. Tự do lại chính là động lực để cá nhân phát triển tối đa khả năng và cá tính của mình. Vì mỗi người mỗi khác, khi các cá nhân càng phát triển thì sự bất bình đẳng về nhiều mặt càng mở rộng. Trong qúa trình phát triển xã hội, tự do và bình đẳng là hai lực vừa đối chọi vừa gắn bó để đưa xã hội hướng lên (xin xem bài “Không Tự Do – Không Đối Lập”).
Khi con người tập hợp thành xã hội và khi xã hội càng tân tiến thì cần có những cơ cấu thích hợp để cân bằng giữa tự do và bình đẳng. Lịch sử chứng minh một thể chế khuyến khích tự do và thực hiện bình đẳng xã hội là một thể chế ổn định và bền vững.
Mác quan sát cuộc cách mạng lập quốc tại Hoa Kỳ, nhưng chưa nhận ra được nguyên nhân chính để người dân tại đây đứng lên giành quyền tự chủ, là để xây dựng một phương cách quản lý xã hội mới mang lại tự do và bình đẳng cho nhân dân Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Người dân các nơi khác cũng đấu tranh để quốc gia họ trở thành các quốc gia dân chủ nhằm cân bằng giữa tự do và bình đẳng.
Chủ nghĩa Mác đã quên vế chính là tự do, chỉ tập trung vào sự bất bình đẳng xã hội và tiên đóan giai cấp công nhân sẽ triệt để đấu tranh san bằng bất công xã hội. Không như Mác tiên đóan, chưa có trường hợp giai cấp công nhân đứng lên để giành chính quyền. Mà ngược lại người dân trong các quốc gia bị cộng sản chiếm đóng đã và đang đứng lên giành lại chủ quyền dân tộc.
Mô hình nhà nước dân chủ
Chủ nghĩa Mác chủ yếu chỉ bàn về kinh tế chính trị. Mác không đưa ra được một mô hình nhà nước “xã hội chủ nghĩa” và cũng không hiểu hay không biết về cách vận hành của nhà nước tự do trong đó các đảng chính trị đấu tranh thực hiện bình đẳng xã hội. Trong thời Mác, các nhà nước tự do đã được hình thành và phát triển tại Hoa Kỳ và một số quốc gia Âu châu, sau đó càng ngày càng trở nên phổ quát trên tòan thế giới.
Khi Mác viết “Tư Bản Luận”, Hoa Kỳ đã lập quốc, với một Hiến Pháp, một nhà nước tam quyền phân lập, một hệ thống chính trị lưỡng đảng, đang đấu tranh xóa bỏ chủ nghĩa nô lệ, … đưa Hoa Kỳ từ các thuộc địa trở thành một quốc gia phát triển. Tất cả những điều này gần như thiếu vắng trong suy nghĩ của Mác. Bởi thế các luận điểm về kinh tế chính trị của Mác, vừa phiếm diện chỉ tập trung vào phân tích cách mạng kỹ nghệ đang xẩy ra tại một số quốc gia Âu Châu, vừa sai lầm vì đấu tranh giai cấp theo kiểu Mác không phải là động lực tiến hóa của nhân lọai, ngược lại nó đã gây chiến tranh, khủng bố, tàn phá nhân lọai.
Đảng Chính Trị Trong Nhà Nước Tự Do
Mỗi quốc gia, trong mỗi lúc, có những hòan cảnh khác nhau. Mỗi quốc gia lại được hình thành từ nhiều tầng lớp xã hội khác nhau. Các tầng lớp này lại luôn thay đổi theo hòan cảnh của cá nhân và xã hội. Không ai giàu ba họ cũng chẳng ai khó ba đời.
Quốc gia càng tân tiến, càng dân chủ thì mức độ bình đẳng càng trở nên cấp thiết. Tổng Thống Obama, một người gốc Phi Châu, xuất thân từ một gia đình trung lưu, Dân Biểu Cao Quang Ánh, một người tị nạn cộng sản là tiêu biểu của sự bình đẳng về cơ hội gia nhập guồng máy chính trị tại Hoa Kỳ.
Mặc đầu cùng dựa trên căn bản tự do và bình đẳng, quyền lợi và ý kiến chính trị mỗi cá nhân mỗi khác có khi lại trái ngược nhau. Người cổ vũ tự do, người cổ vũ bình đẳng.
Những người cùng một xu hướng chính trị, có cùng chung các quyền lợi về kinh tế và chính trị thường tập hợp nhau thành những tổ chức chính trị. Mỗi tổ chức chính trị lại đề ra có những chính sách theo quan niệm xu hướng chính trị của mình. Các tổ chức chính trị cạnh tranh nhau qua những chính sách do tổ chức của mình đề ra và khả năng thực hiện chính sách.
Các đảng chính trị sử dụng nghị trường Quốc Hội, truyền thông tự do và hệ thống chính trị để tranh luận và tìm sự ủng hộ cho chính sách đề ra. Khi các chính sách ưu việt được đa số chọn lựa và thực hiện, xã hội càng ngày càng trở nên tiến bộ, đời sống dân chúng được cải thiện và đất nước mỗi ngày trở nên tốt đẹp hơn.
Nói một cách khác cuộc đấu tranh chính trị là một cuộc đấu tranh trường kỳ giữa các cá nhân, các tổ chức chính trị. Tổ chức nào đề ra các quốc sách phù hợp với nguyện vọng của đa số người dân trong từng giai đọan sẽ được tòan dân trao cơ hội để thực hiện. Trước khi một quốc sách được hoàn thành thì các tổ chức chính trị phải đưa ra các quốc sách mới và phải vận động để tòan dân ủng hộ quốc sách mới này hầu được tiếp tục lãnh đạo quốc gia.
Đấu tranh chính trị từ các đảng chính trị còn gọi là đấu tranh nghị trường. Ngược lại Mác chủ trương đấu tranh giai cấp. Mác chỉ đề cập đến phong trào đấu tranh giai cấp của công nhân chưa nghĩ đến cơ cấu đảng Chính Trị đối lập, với phương cách đấu tranh nghị trường.
Đấu tranh nghị trường là cách đối thọai để tìm ra những phương cách quản lý đất nước tốt nhất trong mỗi tình thế. Trong khi đấu tranh giai cấp là cuộc đối đầu thắng thua dẫn đến dân tộc phân hóa, đất nước điêu tàn (Xin xem bài “Đối Thọai Với Ta – Đối Đầu Với Giặc.”)
Mác chưa nhìn ra cơ cấu nhà nước tự do dân chủ và vì thế tiên đóan sai sự phát triển xã hội. Chủ nghĩa Mác lại được các phong trào cực tả cộng sản sử dụng, được thí nghiệm trên một số quốc gia trong đó có Việt Nam. Chủ nghĩa Mác là cái bào thai sinh ra chủ nghĩa cộng sản đầy tội ác đã và đang bị nhân lọai đào thải.
Tôn Giáo và Bình Đẳng
Mác phủ nhận vai trò của các tôn giáo. Trên thực tế, các tôn giáo luôn tích cực thực hiện công bằng xã hội: bằng cách nhận của người giàu chia cho người nghèo, bằng cách khuyến khích người giàu trực tiếp chia cho người nghèo, và nhất là các tôn giáo luôn đấu tranh cho sự bình đẳng qua việc hình thành và phát triển các thể chế dân chủ tự do.
Với cơ cấu tổ chức và tập thể tín đồ, các tôn giáo trở thành chỗ dựa chính cho các đảng và tổ chức chính trị theo khuynh hướng xã hội. Từ đó các đảng xã hội đề ra những chính sách nhằm thực hiện sự bình đẳng xã hội.
Đảng Lao Động Úc Đại Lợi, từ khi hình thành vào cuối thế kỷ thứ 19 đã được Công giáo nhiệt thành ủng hộ. Khi phong trào quốc tế cộng sản phát triển, để tránh trường hợp các đảng viên ảnh hưởng khuynh hướng bạo động vũ trang cướp chính quyền, đảng Lao động đã đưa ra điều lệ cấm các đảng viên theo hay sinh họat với đảng khác, bao gồm Quốc Tế Cộng Sản.
Đảng Lao Động Úc là một đảng thực tiễn, không theo bất kỳ chủ thuyết nào. Đảng này được chia thành năm cánh. Trong các Hội Nghị Đảng, các cánh đưa ra các chính sách, thảo luận và lấy quyết định chung làm chính sách của đảng.
Cánh cực tả đảng Lao động Úc theo khuynh hướng xã hội chủ nghĩa, nhưng họ không theo chủ nghĩa Mác, cánh này cổ vũ việc chính phủ trực tiếp can thiệp thị trường, chính phủ trực tiếp làm kinh tế nhằm san bằng các bất công trong xã hội.
 
Vì chủ nghĩa Mác là một chủ nghĩa không tưởng, không theo kịp thời đại, không thể làm căn bản để đề ra các chính sách có thể thuyết phục được cử tri nên trên thực tế không ai sử dụng nó trong cuộc đấu tranh nghị trường.
Nước Úc và Hoa Kỳ có hệ thống chính trị lưỡng đảng. Các quốc gia tự do khác trên thế giới có hệ thống chính trị đa đảng, trong đó có các đảng theo chủ nghĩa xã hội. Và như đã đề cập bên trên các đảng này theo chủ nghĩa xã hội nhưng không theo chủ nghĩa Mác.
Tại Việt Nam, ngày 21 tháng 9 năm 1946, Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ cho thành lập Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng, trong Tuyên Ngôn Đảng nêu rõ: “Việt Nam Dân Xã Đảng là một đảng cách mạng xã hội, chủ trương tổ chức nền kinh tế theo nguyên tắc chủ nghĩa xã hội: không để giai cấp mạnh cướp công quả của giai cấp yếu, làm cho mọi người đều được hưởng phúc lợi cân xứng với tài năng và việc làm của mình; những người tàn tật yếu đuối thì được nuôi dưỡng đầy đủ.” Tư tưởng cách mạng xã hội của Dân Xã Đảng hòan tòan độc lập với chủ nghĩa và chủ trương Mác. Tư tưởng này gắn liền với tư tưởng Tòan dân Chính Trị và gắn bó với tư tưởng Phật Giáo. (Xin xem bài “Đức Huỳnh Phú Sổ Đề Ra Cách Mạng Xã Hội Theo Chủ Nghĩa Xã Hội.”)
Đức Huỳnh Phú Sổ là giáo chủ của Phật Giáo Hòa Hảo, một tôn giáo với 7 triệu tín đồ. Mặc dù, Đức Thầy đã bị Việt Minh Cộng Sản ám hại, tư tưởng tòan dân chính trị, tư tưởng cách mạng xã hội và tư tưởng Phật Giáo của Đức Thầy sẽ là căn bản cho Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng đóng góp xây dựng một Việt Nam Tự Do. Người viết xin trở lại đề tài này trong một dịp khác.
Vật Chất Hay Tinh Thần
Một nhà nước tự do là một nhà nước vì dân, do dân và của dân. Các chính trị gia là người đại diện cho người dân và vai trò của họ là thảo luận chính sách và làm luật để bảo vệ tự do và thực hiện bình đẳng xã hội.
Các chính sách, một mặt phải khuyến khích người giàu làm giàu, mặt khác phải hướng đến việc thu thuế người giàu để phục vụ xã hội và san bằng bất công. Thuế nặng lại làm nản lòng người thọ thuế, không khuyến khích họ gia tăng sản xuất, dẫn đến trì trệ kinh tế, làm mọi người trong xã hội cùng nghèo. Trong phát triển xã hội, tự do và công bình về vật chất là hai lực luôn đối chọi nhau.
Chủ nghĩa Mác cho rằng vật chất mới đóng vai trò chính yếu trong quá trình phát triển xã hội, chứ không phải là tinh thần. Thực tế cho thấy thiếu động lực làm việc (tinh thần) mới là yếu tố chính yếu. Thiếu động lực thăng tiến con người sẽ không thể phát huy được tiềm năng sẵn có, kết quả là cá nhân và xã hội vừa nghèo nàn vừa lạc hậu cả vật chất lẫn tinh thần. Kinh nghiệm tại các quốc gia bị cộng sản chiếm đóng, hay tại các quốc gia bị khuynh hướng xã hội khuynh đảo chứng thực sự sai lầm của Mác.
Hướng Đến Tương Lai
Chủ nghĩa Mác quá sức đơn giản khi cho rằng người lao động bị bóc lột không đủ sống nên không có khả năng để dành, không có khả năng đầu tư để sinh lợi, không có thời gian để đầu tư học hỏi… Thực tế cho thấy Mác sai lầm. Trong xã hội dân chủ mọi người đều có thể có tư sản và đều có quyền quyết định về tư sản của mình. Tư sản không phải chỉ dưới hình thức vật chất mà còn qua kiến thức, bằng sáng chế, tác quyền… và tư sản chính là động năng thăng tiến và phát triển xã hội.
Ở tầm vóc quốc gia việc làm chính sách còn phải dựa trên nhiều thế hệ khác nhau. Trẻ sơ sinh phải được nuôi dưỡng. Lớn lên phải tới trường đi học. Ra trường phải có cơ hội làm việc bình đẳng để đóng góp cho xã hội. Và khi về già, bệnh tật hay vì lý do nào đó không thể làm việc phải được xã hội chu cấp. Khi cá nhân đóng góp cho xã hội thì xã hội phải hòan trả bằng an sinh phúc lợi.
Việc thực hiện các yếu tố kể trên không phải đơn thuần là trách nhiệm của nhà nước phúc lợi. Cha mẹ phải nuôi con cái. Cá nhân phải chăm lo học tập và tự hướng nghiệp. Con cái phải chăm sóc cha mẹ. Người làm chính sách phải biết cân bằng trách nhiệm của cá nhân và trách nhiệm của xã hội của nhà nước.
Việc làm chính sách còn phải nghĩ đến các thế hệ tương lai, như giữ gìn môi trường hay hạn chế khai thác các tài nguyên thiên nhiên. Việc cá nhân và chính phủ đầu tư cho các thế hệ tương lai chính là động năng để phát triển xã hội.
Một xã hội tân tiến không phải chỉ tạo cơ hội bình đẳng về vật chất kinh tế. Con người còn đấu tranh bình đẳng trên các mặt khác như chính trị, tín ngưỡng, giới tính, thế hệ, sắc tộc, cơ hội thăng tiến… khi xã hội càng phát triển, càng đa nguyên, càng dân chủ thì đấu tranh bình đẳng bình quyền càng trở nên đa dạng hơn. Một xã hội phúc lợi ngày nay là một xã hội ở đó mọi người đều có được cơ hội bình đẳng về mọi mặt.
Tới đây hy vọng bạn đọc đã thấy rõ chủ nghĩa Mác vừa phiếm diện, vừa sai lầm, vừa cực đoan, vừa bạo động, vừa không tưởng. Chủ nghĩa Mác là cái bào thai sinh ra chủ nghĩa cộng sản đầy tội ác đã và đang bị nhân lọai đào thải.
Xã Hội Phúc Lợi Bắc Âu
Mỗi quốc gia lại có những điều kiện địa lý, lịch sử, văn hóa, kinh tế, chính trị và nhân văn khác nhau. Các quốc gia Bắc Âu có các đảng Dân Chủ Xã Hội mà Bùi Tín nhắc đến gồm Đan Mạch, Na Uy, Thụy Điển, Phần Lan, đều là các quốc gia giàu tài nguyên, ít bị ảnh hưởng hai cuộc Thế chiến, trung lập trong chiến tranh lạnh, văn hóa và xã hội ổn định, dân chúng đa số theo Giáo hội Tin Lành Luther, nền kinh tế đã phát triển, trình độ dân trí cao, vì thế đời sống vật chất từ lâu đã cao và ổn định.
Tại các nước Bắc Âu sinh họat dân chủ nghị trường đã phát triển từ lâu. Thí dụ Đảng Dân chủ xã hội Đan Mạch đã được thành lập từ những năm 1871 hay hệ thống nhà nước an sinh phúc lợi của Thụy Điển đã hình từ những năm 1890.
Bên cạnh sinh họat của nghị trường là họat động phúc lợi của Giáo hội Tin Lành Luther. Tín đồ tôn giáo này chấp nhận đóng góp một phần lợi tức họ thu được để Giáo Hội có thể cung cấp các dịch vụ phúc lợi đặc biệt về giáo dục. Tư tưởng bình đẳng hay công bằng vì vậy đã thấm nhuần trong suy nghĩ của các dân tộc Bắc Âu. Và là chỗ dựa của các đảng và tổ chức chính trị theo khuynh hướng Xã Hội, trong đó có đảng Dân Chủ Xã Hội.
Tới đây hy vọng rằng bạn đọc đã thấy rõ không có nhà nước kiểu: “Chủ Nghĩa Xã Hội – Dân Chủ, do một số đảng Xã hội – Dân chủ như ở Bắc Âu thực hiện, vận dụng chủ nghĩa Mác để phân tích chủ nghĩa tư bản” Thay đổi suy nghĩ con người thực khó. Bùi Tín đã sống ở Tây Âu trên 20 năm, vẫn chưa hiểu được điều kiện và động năng phát triển của xứ người, vẫn cứ “tù mù” tin theo các “giáo trình chính trị quốc tế” và suy nghĩ vẫn chưa thóat khỏi “chủ nghĩa Mác”.
Bùi Tín Hay Thành Tín chỉ là Một
Ở cuối bài viết “Hai từ dùng nhiều, lại tù mù nhất”, Bùi Tín nói rõ mục đích của bài viết là để vận động trưng cầu dân ý đổi tên đảng Cộng sản và đổi tên nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Vì tên đảng có chữ “cộng sản” và tên nước có chữ “Xã Hội Chủ Nghĩa” là hai từ dùng nhiều nhất, lại tù mù nhất.
Tới đây mới thấy rõ hơn sự “tù mù” của Bùi Tín, nếu bản chất của nhà nước vẫn độc tài đảng trị thì việc đổi tên có khác gì kêu Bùi Tín là Thành Tín, còn bản chất con người vẫn không thay đổi, suy nghĩ vẫn tù mù với “chủ nghĩa Mác” bào thai của chủ nghĩa cộng sản. Cộng sản không thể thay đổi mà phải thay thế bằng một chính thể tự do dân chủ.
Thay Đổi Cách Suy Nghĩ
Thay đổi cách suy nghĩ là một điều cực kỳ khó. Không ít người cả cuộc đời đã gắn bó với chế độ cộng sản, có khi họ nhìn ra sự sai lầm của chế độ, nhưng vì lý do này hay lý do khác vẫn chưa thể dứt khóat để đứng về phía người dân giành lại chủ quyền đất nước.
Trong thời bao cấp họ sợ mất sổ gạo, mất hộ khẩu… vì các thứ nói trên gắn liền với đời sống của họ và gia đình. Ngày nay nỗi lo sợ nói trên không còn, nhưng đứng trước sự cáo chung của chế độ, đảng Cộng sản lại mang sổ hưu trí ra để hù dọa và trói buộc những người trước đây đã làm việc trong guồng máy cộng sản. Gần đây có khá nhiều bàn cãi về việc này. Một suy nghĩ đúng đắn không phải là việc bảo vệ hưu trí, mà làm sao xây dựng một hệ thống an sinh cho những bậc cao niên.
Thay đổi suy nghĩ con người thật khó, nhưng không phải vì thế không thể thay đổi được. Tóm lại chỉ có chế độ tự do dân chủ mới có thể mang lại bình đẳng cho tòan dân và mới là căn bản của phát triển quốc gia.
Xuân Quý Tỵ đang tới mong chúc bạn và gia đình vạn sự như ý.
Nguyễn Quang Duy
Melbourne, Úc Đại Lợi
31/1/2013
Bài Đọc Thêm
Nguyễn Quang Duy, 3/2012, “Đức Hùynh Phú Sổ Chủ Trương Tòan Dân Chánh Trị”.
Nguyễn Quang Duy, 9/2012, “Đức Huỳnh Phú Sổ Đề Ra Cách Mạng Xã Hội Theo Chủ Nghĩa Xã Hội.”
Nguyễn Quang Duy, 12/2012, “Đối Thọai Với Ta – Đối Đầu Với Giặc.”
Nguyễn Quang Duy, 1/2013, “Không Tự Do – Không Đối Lập”.
Advertisements

2 responses

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s