Nguyễn Thanh Giang ca ngợi Trần Mạnh Hảo, cá mè một lứa?

Vừa mới ca tụng Bùi Tín để “kiến nghị” Đảng cần phải “hối lỗi”, rước ông ta về để thể hiện tôn chỉ “hoà hợp hoà giải”, ông Nguyễn Thanh Giang lại cho ra bài “Ly thân, làm tiếng ếch gọi mưa” ca ngợi “mặt lành” của Trần Mạnh Hảo (nói vậy bởi vì Trần Mạnh Hảo còn có “mặt rách”= chuyên ca ngợi, bảo vệ Đảng, mà Thanh Giang cố ý tảng lơ, giấu nhẹm) để cho hợp gu với phe mình.Đến giờ thiên hạ mới được biết ông Trần Mạnh Hảo này là thần tượng của ông Thanh Giang, khiến ông chịu khó cặm cụi “gạn đục khơi trong” cho được một tiểu luận hơn chục trang ca ngợi “mặt lành” của ông Hảo. Kể cũng đáng bái phục.Chúc mừng ông Hảo đã kết nạp được một “lão thành dân chủ” vào câu lạc bộ fan hâm mộ của mình! Tiếp tục đọc
Advertisements

Trần Mạnh Hảo- SỰ SAI TRÁI KHÔNG GIỚI HẠN

Để viết nên loạt bài dưới danh nghĩa “góp ý cho Đảng” đăng trên một số báo trên mạng, Trần Mạnh Hảo (TMH) đã: “Suốt hai năm qua, chúng tôi đã vùi đầu đọc lại ngót 60 cuốn sách dày cộp bộ toàn tập Marx-Engel-Leinne với tâm thế của một nhà nghiên cứu, nhà khoa học” và được dư luận “trong và ngoài nước” “động viên, chia xẻ(sẻ), lo lắng cho sự an toàn tính mạng”. Tiếp tục đọc

Thư ngỏ gửi Trần Mạnh Hảo & Trương Duy Nhất

          Hà Nội, ngày 04/10/2011

         OLYMPUS DIGITAL CAMERA           Anh Trần Mạnh Hảo,

          Có thư này cho anh vì tôi vừa đọc bàiTiến sĩ Nguyễn Sĩ Đại bốc thơm Trần Gia Thái” trên website truongduynhat.vn ngày 2/10/2011.

          Bỏ qua lối nói xách mé của anh đối với tôi cũng như với nhiều người khác, với báo An ninh thế giới, tôi muốn trao đổi với anh một cách đường hoàng những vấn đề về văn học mà anh đưa ra trong bài viết này. Giữa chúng ta là bạn đọc, và ai cũng cần tôn trọng họ.

          1- Phần cuối, phần chốt, đồng thời đưa chapeau, anh viết:

          “Những động cơ phi văn học hầu như đang điều hành guồng máy nền văn học quốc doanh. Đấy là một tai họa cho đất nước: văn học chân chính đang bị xua đuổi khỏi đời sống xã hội, nếu còn những người làm thơ như ông Trần Gia Thái và còn người bình thơ như ông Nguyễn Sĩ Đại”.

          Tôi không bao giờ nhận mình là nhà phê bình. Yêu thơ, có am hiểu ít nhiều về thơ, tôi vẫn chia sẻ cảm nhận của mình với bạn đọc khi đọc thơ Đường, đọc thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du xưa và các nhà thơ Việt Nam hiện đại như Tố Hữu, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Xuân Sanh, Hoàng Cầm, Tế Hanh, Khương Hữu Dụng… Đôi khi, tôi được các nhà thơ đó coi là hiểu được họ.

          Tôi cũng đọc và cổ vũ cho các nhà thơ thế hệ chống Mỹ cứu nước, thế hệ Đổi mới. Có người nhận là tri âm, có người không bằng lòng. Tôi coi đấy là sự thường.

          Tôi chỉ là một bạn đọc; người viết bình thường; làm sao “xua đuổi” được “nền văn học chân chính”, làm sao làm nên “tai họa cho đất nước”?

          Mà chẳng ai làm được điều đó đâu, anh Hảo ạ!

          Tôi không biết là anh đang dọa, đang vu cáo hay đang “khen” tôi? Dọa thì tôi chẳng sợ, mà “khen” thì tôi chẳng nhận! Anh đã chọn sai vấn đề, chọn sai đối tượng.

          Tôi không phải là nhà phê bình; đúng rồi! Và “thẩm mỹ thơ của ông NSĐ có vấn đề”, tôi cũng đồng ý. Tôi học hành lỗ mỗ, trí lự tầm thường, có lẽ chẳng có gì đáng bàn, làm mất thì giờ bạn đọc.

          Nhưng tôi muốn hỏi anh, trong bài viết này, cũng như nhiều phát biểu khác, anh thường phân ra và đối lập giữa hai nền “văn học quốc doanh” và “văn học chân chính” thì tiêu chí “quốc doanh ”, tiêu chí “chân chính” của anh là gì?

          Thứ nhất, cái “hệ thống” này nghe không ổn đâu, anh Hảo ạ. Bàn về học thuật, không ai có thể nói nói bừa, nói phứa được.

          Thứ hai, ngụ ý anh Hảo là gì? Cái “nền văn học chân chính nước nhà” là gì, anh Hảo chưa nói ra, nhưng có lẽ để anh Hảo lọc kỹ thì chắc chỉ có mình anh và một số “bạn hữu” đâu đó ngoài biên giới mà thôi! Còn cái nền “văn học quốc doanh” theo anh, chắc là những nhà văn tự nguyện chịu sự lãnh đạo của Đảng, tự nguyện phụng sự sự nghiệp của nhân dân theo con đường Đảng đã vạch ra. Thế là rõ. Những cái gì thuộc về quốc doanh, về nhà nước là xấu, là cần phải đánh đổ. Trước hết là “văn học quốc doanh”, sau đó là “kinh tế quốc doanh”, sau đó là thể chế, phải không anh Hảo?

          Tuy nhiên, tôi thấy anh chẳng bỏ quyền lợi gì do Nhà nước này, do “quốc doanh” mang lại. Anh đã “ly thân” từ năm 1989, ly khai với Đảng, với lý tưởng; nhưng ánh sáng ngọn đèn anh viết, cũng do sức của người thợ điện, những tiện nghi anh có cũng là thành quả của sự nghiệp nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nó được hiểu theo nghĩa đen và đúng tuyệt đối đấy anh Hảo ạ!

          Anh chửi Hội Nhà văn nhưng anh có ra khỏi Hội đâu, vẫn lĩnh tiền này nọ, vẫn tự hào về các giải thưởng mà Hội Nhà văn ViệtNamtrao tặng đấy thôi!

          2- Anh chê thơ của anh Trần Gia Thái dữ lắm, nhất là bài Nhớ cha, một bài thơ nói về người cha vùng đồng chiêm lam lũ Bình Lục (Hà Nam), cũng như quê anh Nghĩa Hưng (Nam Định), nhưng biết nuôi chí lớn cho con cái và đạo nghĩa cho đời sau. Tôi ủng hộ dòng thơ ấy. Còn anh không thích là tùy anh. Anh “nhại” thơ Trần Gia Thái, chê là cổ; thì thơ anh cũng bốn câu, bảy chữ, ba vần nhiều lắm, cũng có thể nhại được lắm. Tôi nhớ bài thơ Bạch Cư Dị của anh tặng V. C. H cũng toàn từ cổ, vay mượn:

Gió Tư Mã thổi ta lau lách

Mây Giang Châu lặng rách bên trời

Đêm thu lá vàng tiễn khách.

Trường Giang từ âm phủ về chảy tiếng đàn rơi…

          Đấy là chưa kể anh còn ví các anh ngang Bạch Cư Dị!

          Anh chê thơ anh Trần Gia Thái là “diễn nôm có vần”. Rồi cay nghiệt hơn: “Thưa ông nhà thơ TGT và ông bình thơ NSĐ: Các ông sướng lắm do quen sống giả dối nhiều rồi nên mới thích biến thành người điên để được sống thật phải không? Thưa, người điên là người đã đánh mất lý trí, tức không còn ý thức được mình và cuộc đời. Một người không còn lý trí, không còn ý thức, phỏng có thể biết đâu là chân, là giả mà các ông dám cho cứ điên mới sống thật. Còn 99% dân ta đang sống tỉnh như ngóe trên thiên đường xã hội chủ nghĩa chẳng lẽ toàn sống giả trá hay sao?”

          Một lần nữa, tôi xin không nói về mình – về sự giả dối so với ai đó; mà giải thích cho anh Hảo rằng, người điên trong văn học, như Hăm-lét, chẳng hạn, chỉ là hình tượng, phương cách nhà văn thể hiện tư tưởng của mình. Và hình tượng người điên trong văn học cũng khá nhiều; tôi nghĩ anh cũng có đọc, có biết rồi.

          Còn cái cách anh nói về đồng bào mình, về xã hội mình là “còn 99% dân ta đang sống tỉnh như ngóe trên thiên đường xã hội chủ nghĩa” thì không còn là cách nói “xách mé” nữa, mà xin lỗi anh, đó là hỗn, một từ lịch sự nhất mà tôi có thể gọi về hiện tượng này.

          Anh báng bổ thơ Trần Gia Thái và nhiều người khác, dành cho mình sự cao đạo như thể chỉ mình anh tâm huyết, xây đắp văn học chân chính nước nhà; tôi lại nhớ đến một bài thơ Tự do hay là chết của anh. Theo tôi, bài thơ này chỉ là những mảnh ghép của những triết lý vụn vặt, khẩu ngữ hơn cả cách nói bình thường:

Nếu có thể đổi đôi mắt

Để lấy trời xanh?

– Ta chúa ghét mộng mơ

Nếu mà ngươi mù mắt

Thì trời kia dù có cũng vu vơ.

– Nếu có thể được

Tôi xin đổi tiếng hát

Lấy một thoáng trời cao?

– Nhảm nào

Nếu mà ngươi không có tiếng hát

Thì ta nhốt ngươi làm gì?

          Thế đấy, anh Hảo ạ. Anh từng có nhiều bài thơ hay được bạn đọc, trong đó có tôi, mến mộ. Nhưng thơ anh bây giờ như thế, hoặc Số phận cho ta làm mặt thớt/ Kể gì thịt cá nát đời nhau/ Sinh ra là để người ta chặt/Ta chỉ ăn toàn những vết dao. Thơ không có chỗ ở trong những trái tim không lương thiện!

          (Tôi muốn nói đôi lời với anh Trương Duy Nhất. Tôi thấy website của anh, những bài viết và comment, nó rác quá. Trước khi định cầm chổi quét trời, anh hãy xem lại nhà mình đi đã!)

          3 – Phê bình văn học có nhiều chức năng. Trong đó có việc phát hiện và chăm chút những nụ mầm vừa nhú; cổ vũ, động viên khích lệ mọi hoạt động sáng tạo. Đó cũng là một truyền thống tốt đẹp của văn học nước ta. Một thế hệ thơ chống Mỹ, trong đó có anh Trần Mạnh Hảo, đã được cả nước nhiệt tình cổ vũ, mới có cái tên Trần Mạnh Hảo ngày nay, sao bây giờ anh lại hẹp hòi, cay nghiệt với người khác như vậy? Kinh Thánh có câu : Dầu và hương thơm làm phấn khởi lòng người. Tình bạn ngọt ngào giúp tinh thần thêm vững mạnh. Tôi không ân hận, mà vui vì được giới thiệu thơ của bạn tôi, Trần Gia Thái. Từ chuyện thơ, anh lại lèo vào cái chuyện của Đài PTTH Hà Nội. Như thế là không đứng đắn. Nếu anh yêu những người biểu tình yêu nước, thì xin anh cũng ca ngợi cho, và ca ngợi hơn những chiến sĩ Trường Sa; những người đấu tranh thầm lặng để giữ bền quan hệ hữu nghị hợp tác; giữ nền hòa bình cho đất nước. Khi có can qua, tôi tin rằng, không ít người trong đoàn biểu tình ấy, và con cháu họ, đã bay tự bao giờ, ra chiến trường và đổ máu, chỉ con em nông dân mà thôi!

          ***

          Tôi không biết bây giờ anh còn Đức tin nào. Đành mượn Kinh Thánh. Kinh Thánh nói: Đánh sữa sẽ được bơ, bóp mũi sẽ bật máu và chọc giận sẽ sinh chuyện đôi co”. Tôi thường lấy đó làm câu răn mình. Và cũng muốn nhắc anh Trần Mạnh Hảo nhớ đến sáu điều Đức Chúa gớm ghét, bảy điều khiến Người ghê tởm, đó là: Mắt kiêu kỳ; lưỡi điêu ngoa; tay đổ máu người vô tội;lòng mưu tính những chuyện xấu xa; chân mau mắn chạy đi làm điều dữ;kẻ làm chứng gian dối thốt ra lời dối trá; người gieo xung khắc giữa anh em.

NSĐ

Chỉ có một từ duy nhất cho Trần Mạnh Hảo: Điên

Trước đây, khoảng 7-8 năm, tôi có ở trong khu hẻm 215H/27 Phan Đăng Lưu (nay là đường Đoàn Thị Điểm), P.1, Quận Phú Nhuận- mà ông Trần Mạnh Hảo có một khu nhà ở cuối hẻm (ông dùng để cho thuê thì phải). Không biết bây giờ ông Hảo còn ở đấy không, nhưng 8-9 năm trước, không ai trong khu phố này lại không biết ông nhà thơ ở cuối hẻm có vấn đề về đầu óc. Nhiều người cón nói thẳng vào mặt ông Hảo là ông bị…điên (nhưng cái điên này, theo chỗ tôi biết, không giống cái điên của Trung niên Bùi thi sĩ chút nào). Bởi lẽ, thi thoảng khi nhà của ông chưa cho thuê được, ông Hảo cũng có về đây ở hay chăm nom nhà cửa. Những lúc đấy, ông thỉnh thoảng lại gây hấn và cãi nhau với hàng xóm, với cung cách rất du thủ du thực, kiêu căng, hống hách, không giống với sự nho nhã của một nhà thơ tý nào. Riêng tôi đã từng tận mắt chứng kiến một lần ông Hảo ra trước nhà chửi bới, mắng chửi và xua đuổi một nhóm những cụ bà đang tập dưỡng sinh cuối hẻm, trước cửa nhà ông, nôm na ông gọi những phụ nữ này là :”rỗi hơi, tập trung lại múa may quay cuồng như mấy con khỉ già”, “ám nhà ông, làm cho ông không cho thuê nhà được”… (?). Chuyện này xảy ra đã khoảng 8-9 năm trước, nếu ai không tin, có thể đến con hẻm này để kiểm chứng. Theo chỗ tôi được biết, rất nhiều người trong số các cụ bà tập dưỡng sinh hôm ấy, hiện vẫn cón ở khu vực này. Nếu trí nhớ của ông Hảo không tồi thì chắc hẳn ông sẽ vẫn cón nhớ chuyện này.
Thực lòng mà nói, đề cập đến đời tư của một người là một việc rất không nên và rất đáng chê trách. Nhất là khi chúng ta đang trao đổi những vấn đề về quan điểm văn học chứ không phải về đời tư của cá nhân. Hơn nữa, người đó là là một nhà thơ- tác giả của bài thơ “Khi chưa có mùa thu” mà thời sinh viên tôi từng yêu thích. Nhưng quả thật, đây là một việc chẳng đặng đừng, bởi lẽ, theo thiển nghĩ, tư cách của một nhà thơ, một nhà phê bình không chỉ thuần túy bộc lộ trên mặt con chữ, hay trên sách báo mà còn phải được thể hiện trong cuộc sống thường ngày của họ với tư cách là một con người bình thường, một công dân trong xã hội. Vì lẽ đó, một người đã từng có những tình cảm yêu thương, quý trọng con người-với tư cách là những đồng đội- như trong bài thơ “khi chưa có mùa thu” đến mức ấy, hẳn nhiên sẽ phải có những tình cảm trân trọng tương tự đối với con người-trong tư cách những người hàng xóm, láng giềng- nhất là khi những người đó lại đáng tuổi mẹ mình. Tiếc thay, thực tế lại diễn ra hoàn toàn trái ngược. Không lẽ, Thơ và Đời trái ngược nhau đến mức nhưa vậy? Sau chuyện đó, trong tâm trí tôi, nhà thơ Trần Mạnh Hảo, quả thật, đã không còn hiện diện.
Ấn tượng này của tôi càng có cơ sở hơn, khi trong giai đoạn ấy, tôi được đọc trên báo những bài phê bình của ông Trần Mạnh Hảo, trong đó, bằng lối hành văn “đao to búa lớn” (nếu không muốn nói là “du thủ, du thực” y chang như cách đối nhân xử thế của ông ngoài đời) ông đã hô hoán, quy chụp những vị thầy khả kính như GS. Huỳnh Như Phương, GS. Nguyễn Lộc,v.v… Ngay cả những bậc trưởng thượng như GS. Hoàng Như Mai ông cũng không không tha. Tôi cảm nhận thấy, trong những bài biết của ông, ý đồ mang tính triệt hạ chứ không phải xây dựng-như mục tiêu tốt đẹp của ngành phê bình học.
Quay trở lại câu chuyện “Bài văn điểm 10”, thực tình tôi không phải là một người học văn nên không dám lạm bàn. Thế nhưng, theo thiển nghĩ, việc nhận định “ánh trăng” là dối lừa, hay “đẹp” tuỳ thuộc vào quan điểm riêng của từng cá nhân (mặc dù “dối lừa” và “đẹp” chưa hẳn là một cặp phạm trù đối lập nhau về tính chất). Hơn nữa, đây lại là quan điểm của một nhân vật trong truyên, chứ chưa hẳn là của tác giả. Do vậy, việc lôi đích danh Nam Cao-lại còn “chua” thêm “nhà văn liệt sỹ” quả là không phải phép. Đấy là chưa kể tư duy logic của ông Hảo hơi lộn xộn, hoặc giả là ông chơi trò “đánh lận con đen” khi trong bài này ông cố tình đề cập đến Nam Cao, như là thủ phạm chôn vùi chủ nghĩa lãng mạn: “Thưa nhà văn liệt sĩ Nam Cao, ánh trăng bản thân nó chẳng có lỗi gì. Sao ông dám bảo “ánh trăng lừa dối” ? Ánh trăng là quà tặng đẹp nhất của tạo hóa ban cho con người. Xin ông và các thầy thử tìm xem trong văn học, thi ca, âm nhạc…những câu đẹp nhất, giai điệu đẹp nhất là những câu, những giai điệu ca ngợi ánh trăng hay sao ? Những câu thơ Đường hay nhất, câu Kiều hay nhất đều là những câu viết về ánh trăng đấy. Bản giao hưởng thiên tài “Ánh trăng” của Betthoven đâu có lừa dối ai ? Trong ý nghĩa của câu tuyên ngôn nguyền rủa ánh trăng trên, Nam Cao dùng để chôn chủ nghĩa lãng mạn, cực đoan cho là chỉ có chủ nghĩa hiện thực mới là văn học mà thôi”. Thế nhưng trong thư gởi ông Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ giáo dục ngay sau đó, ông lại hồn nhiên rằng : “Nhưng than ôi, thưa ông Bộ trưởng, câu nói đầy ngộ nhận trên mà Bộ gán cho Nam Cao không phải là của Nam Cao, lại càng không phải là quan điểm nghệ thuật của Nam Cao. Câu nói vu vơ về ánh trăng lừa dối, ánh trăng không phải là nghệ thuật kia thực ra chỉ là CÂU NÓI CỦA NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN TRĂNG SÁNG CỦA NAM CAO MÀ THÔI!”.
Tôi cũng đồng tình rằng việc coi bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” là thơ điên, hay nhận định sợi dây của A Sử đã trói buộc tâm hồn Mỵ  là không chính xác. Nhưng, có cưỡng ép quá không khi ông Hảo quả quyết nhận định của em học sinh kia là những điều do bộ Giáo dục dạy ở trường? Tôi cũng đã từng được học những bài này trong chương trình phổ thông, và thầy cô của tôi cũng chưa bao giờ dạy như thế. Sao ông Hảo không nghĩ rằng đấy đơn thuần chỉ là nhận định cá biệt của một em học sinh? Và việc chấm bài thi này điểm 10 là do hạn chế về trình độ của một bộ phận giáo viên dạy văn?
Thiết nghĩ, lập luận phải mang tính biện chứng, nhất là những lập luận mang tính phê bình. Tôi không bênh vực gì Bộ Giáo dục nhưng việc từ một lời nhận định của học sinh trong một bài thi văn, ông Hảo vội quy kết rằng Bộ đã giết chết môn văn, tôi ngờ rằng, dường như ông Hảo đang muốn chơi trò chơi “siêu hình” ở đây.
Xin lạm bàn thêm một chút về “ánh trăng”. Giả dụ rằng, ta đang đứng trên mặt trăng, khi nhìn về trái đất thì hẳn nhiên là trái đất sẽ rất đẹp, nhưng vì đang sống trên trái đất nên, hẳn nhiên, ta phải biết rằng trái đất, đôi khi cũng không được đẹp như ta tưởng. Vậy nên, “ánh trăng” có thể đẹp, có thể chưa đẹp, điều đó còn tùy vào góc nhìn của từng người. Và đấy cũng chính là quyền của mỗi người. Cũng như, khi nhìn nhận về Trần Mạnh Hảo, có người sẽ cho rằng đấy là một nhà thơ, một nhà phê bình xuất sắc, dũng cảm, dám nói những điều người khác không dám nói, nhưng người khác lại cũng có quyền cho rằng : ông điên. Thế thôi.
Ngôn bất tận ý,
Kính.

Trần Đình Thắng

Nguồn: http://lethieunhon.com/read.php/3091.htm

Trần Mạnh Hảo chấm lại bài thi điểm 10: Có nên đao to búa lớn

Ở đời không có cái gì là hoàn hảo tuyệt đối, điểm 10 cũng vậy. Đến tác phẩm của nhà văn viết ra còn đính chính tùm lum, tái bản mấy lần, huống gì là văn của 1 học sinh. Với các lỗi chính tả và lỗi diễn đạt như trên (không kể đến chuyện người chép lại bài văn này lên mạng type sai và những đánh giá về lỗi diễn đạt có phần chủ quan của ông Hảo), em đã bị trừ 0.25 điểm rồi. Điểm 9.75 làm tròn 10 ở đây chỉ mang tính khích lệ đối với em học sinh có bài văn khá hơn những em khác trong cùng 1 trình độ mà thôi. Cũng như môn toán, ở trình độ tiểu học các em làm diện tích nửa hình tròn là ½ ΠR2, không lấy số lẻ. Còn ở trình độ đại học thì thường phải tính bằng tích phân, lấy 4 số lẻ mới ra tầm “đại học”, mới được 10 chẵn chứ không phải là 9.75.

Về phần ý tứ, miễn là em ấy có cảm được đủ một số ý tứ là được, có ý tứ sáng tạo nữa thì quá hay. Tôi cho rằng nên thay đổi cách chấm văn, những ý tứ sáng tạo nhưng mang tính xây dựng, tích cực theo đúng tinh thần của tác phẩm thì phải được gấp đôi số điểm cho những ý đã có trong thang điểm chấm.

Bàn về các lỗi ý mà ông Hảo đã phân tích:

1. “Nghệ thuật không là ánh trăng lừa dối…” :

– Nếu tác phẩm mà ko thể hiện được ý tứ và quan điểm nghệ thuât cũng như quan điểm sống của tác giả, thì tác giả viết làm gì, tác phẩm đó nêu được ý nghĩa gì, nhằm mục đích gì, chúng ta cần phải đọc nó và bình luận về nó để làm gì? Chẳng lẽ anh viết ra 1 tác phẩm văn hóa xuất bản ra sách mà chỉ là những câu chuyện phiếm vu vơ thôi sao? Văn học là để định hướng xã hội đến với “chân – thiện – mỹ”. Thế mà anh hướng người đọc chú ý đến cái quan điểm của nhân vật trong tác phẩm, anh đặt ra 1 cái cốt truyện với cái kết quả là cái quan điểm chủ nghĩa hiện thực trong văn chương đã chiến thắng, mà anh lại phủi tay bảo rằng đó không phải là quan điểm mà anh cho là đúng đắn, chẳng khác nào “đem con bỏ chợ”. Tôi cho rằng là con người nói chung, đặc biệt là nhà văn, phải nhất quán trong quan điểm và ngòi bút của mình.
– Thôi thì cứ cho đó là câu nói của nhân vật, ko phải của tác giả đi chăng nữa thì câu đó có gì là sai? Ông Hảo cho rằng ánh trăng là đẹp, ông đánh đồng “đẹp” với “không lừa dối”, ông thích văn chương lãng mạn, đó là quan điểm của ông. Anh Điền trong “Trăng sáng” cho rằng ánh trăng là “lừa dối”, những hình ảnh ước lệ tượng trưng, lãng mạn hào hoa là không còn hợp thời, hiện thực văn chương mới là nhất, đó là quan điểm của Điền. Có gì là sai khi ta có 1 quan điểm? Tôi đồng ý với ông là ở thế giới này, hiện thực và lãng mạn đan xen, chúng không phủ nhận nhau. Nhưng anh Điền có ý kiến của anh Điền, và chúng ta tôn trọng nó. Em học sinh trong bài văn của mình đã nêu ra được những quan điểm ấy, như thế là đủ ý.
– Xin ông Hảo chú ý thêm là ở vào hoàn cảnh chiến tranh và nghèo đói của đất nước ta trước Cách Mạng Tháng Tám, quan điểm văn chương hiện thực là điều dễ thấy ở các nhà văn và mới là hợp với lòng dân.

2. “Sợi dây trói tâm hồn..”:

– Em học sinh viết từ “trói” trong ngoặc kép, ông Hảo có cảm nhận được ý của dấu ngoặc kép đó không? Ông đọc lại tác phẩm của Tô Hoài ông sẽ thấy, “tâm hồn của cô gái đang hòa nhập với mùa xuân” đã bị đè nén xuống, thay vào đó là sự cam chịu, phục tùng, u mê trong mấy năm liền, đó chính là do bị “trói” đấy. Xin nhấn mạnh, bị “trói”, chứ không phải là bị “tiêu diệt”. Đến khi gặp A Phủ, thì tâm hồn đó đã thức tỉnh, đã tự cởi dây trói cho chính mình. Ông có hiểu được chính xác nội dung tác phẩm không thưa ông?

3. “Chất điên là phong cách nghệ thuật của Hàn Mặc Tử”, “Người đẹp mặt vuông chữ điền”, “Gió theo lối gió, mây đường mây trong cảnh chia ly, uất hận”

– Ý thứ nhất, tôi đồng ý rằng em học sinh dùng từ “điên cuồng” là hơi quá tay. Chất điên ở đây chỉ là cái sự tưng tửng lãng đãng vu vơ của ông Hàn Mặc Tử, từ này được lấy từ tên tập thơ – chủ đề của tập thơ. Điên cũng có nhiều kiểu, ông Hảo ạ. Theo tôi liên tưởng thì ông hiểu cứ điên là phải gào thét, vùng vẫy, cắn xé và mất trí? Cái chất điên của Hàn Mặc Tử chỉ là chút lãng đãng vơ vẩn thế thôi.
– Ý thứ hai, cho đến nay, người mặt chữ điền có được coi là đẹp, là phúc hậu hay không, đó còn là quan điểm của mỗi người. Ông không thấy đẹp nhưng em học sinh này thấy đẹp. Theo tôi được biết ở các nước phương Tây người ta cũng thấy mặt vuông là đẹp.
– Ý thứ ba, chữ “chia ly, uất hận” ở đây là do cô học sinh có liên tưởng đến việc nhà thơ Hàn mặc Tử bị thất tình, nên nhìn cảnh mây gió cũng thấy sự “chia ly, uất hận”. Tôi thấy, đó cũng là 1 ý kiến.

Cuối cùng, 1 bài văn của 1 em học sinh không đại diện nổi cho cả 1 thế hệ. Nói như ông là quá đao to búa lớn, quá bi quan và trầm trọng hóa, gây ảnh hưởng đến tinh thần của các em học sinh và làm mất niềm tin của mọi người vào các em cũng như vào ngành giáo dục nước nhà.

 

Nhà thơ TRẦN MẠNH HẢO xin chấm lại Bài Văn Điểm 10

Kính gửi nhà thơ Lê Thiếu Nhơn, chủ trang web www.lethieunhon.com và kính thưa bạn đọc gần xa. Đọc xong bài văn điểm 10 thi vào đại học của học sinh Nguyễn Trung Ngân trên web www.lethieunhon.com, tôi vô cùng buồn cho nền giáo dục Việt Nam, thể hiện rõ nhất trong việc dạy và học môn văn, môn học quan trọng bậc nhất để các con em ta trở thành một người Việt Nam đúng nghĩa. Là người đã từng viết gần 300 bài phê bình sách giáo khoa văn trung học và một số giáo trình đại học, đã được Bộ GD &ĐT tiếp thu và cho viết lại sách giáo khoa văn trung học năm 2000, tôi chỉ còn biết ngửa mặt kêu trời vì sự dạy văn nơi nhà trường chúng ta, thông qua bài văn điểm 10 lại tiếp tục tệ hại đến mức này !

NHÂN CHUYỆN “BÀI VĂN ĐIỂM 10

TRẦN MẠNH HẢO

Riêng với bài văn điểm 10 của em Nguyễn Trung Ngân có một số lỗi thừa chữ, câu văn trúc trắc, thiếu dấu chấm câu…tôi đã sửa lại trên chính văn bản bài văn bằng những chữ in đậm là thừa chữ phải bỏ, in nghiêng là nhận xét của tôi. Nhìn chung về lỗi viết sai câu cú nơi bài văn của em Ngân còn thua xa sự sai sót trong việc viết câu văn tiếng Việt nơi bài khái luận về “Nguyễn Du- Truyện Kiều” của GS Nguyễn Lộc trong sách giáo khoa văn lớp 10 mà tôi từng phê bình in trên 10 tờ báo.
Trong một đề văn như 3 đoạn tiểu đề trên luận về 3 khía cạnh của ba tác giả : Nam Cao, Tô Hoài, Hàn Mặc Tử, ta thấy cái gọi là “quan điểm nghệ thuật hiện thực của Nam Cao” phủ nhận sạch trơn “quan điểm nghệ thuật lãng mạn của Hàn Mặc Tử” là cớ làm sao ? Xin trích lại cái gọi là “quan điểm nghệ thuật Nam Cao” nơi bài văn điểm 10 như sau : “Chao ôi, nghệ thuật không là ánh trăng lừa dối. Nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp người lầm than !”.
Nếu Nam Cao, nói như bài văn điểm 10 ( mà các thầy dạy) dùng quan điểm nghệ thuật như trên làm chân lý, thì than ôi, đây chỉ là một thứ ngụy chân lý ! Thưa nhà văn liệt sĩ Nam Cao, ánh trăng bản thân nó chẳng có lỗi gì. Sao ông dám bảo “ánh trăng lừa dối” ? Ánh trăng là quà tặng đẹp nhất của tạo hóa ban cho con người. Xin ông và các thầy thử tìm xem trong văn học, thi ca, âm nhạc…những câu đẹp nhất, giai điệu đẹp nhất là những câu, những giai điệu ca ngợi ánh trăng hay sao ? Những câu thơ Đường hay nhất, câu Kiều hay nhất đều là những câu viết về ánh trăng đấy. Bản giao hưởng thiên tài “Ánh trăng” của Betthoven đâu có lừa dối ai ? Trong ý nghĩa của câu tuyên ngôn nguyền rủa ánh trăng trên, Nam Cao dùng để chôn chủ nghĩa lãng mạn, cực đoan cho là chỉ có chủ nghĩa hiện thực mới là văn học mà thôi. Như vậy cái món “tư tưởng nghệ thuật” của Nam Cao đã giết chết ( phủ nhận) chính bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử ! Hèn gì các thầy ( và sách giáo khoa văn trung học ?) dám liều mạng bảo bài thơ này là thơ điên !
Xin quý vị xem lại bài văn điểm 10 qua cách “chấm” của chúng tôi ( Trần Mạnh Hảo) !
Xin cám ơn nhà thơ Lê Thiếu Nhơn và quý bạn dọc xa gần. Chúng tôi mong được sự hồi âm của các bạn và của các thầy, các giáo sư, để một lần nữa, hi vọng chúng tôi lại hân hạnh được“hầu chuyện các giáo sư !” !
Kính thư : TMH

BÀI VĂN ĐIỂM 10
Câu 1 (2 điểm): Anh/ chị hãy nêu những nét chính trong quan điểm nghệ thuật của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám.

Nam Cao là một nhà văn lớn của nền văn học hiện thực phê phán nói riêng và là một nhà văn lớn của văn học Việt Nam nói chung. Sở dĩ Nam Cao có một vị trí xứng đáng như vậy bởi cả cuộc đời cầm bút của mình, ông luôn trăn trở để nâng cao “Đôi Mắt” của mình. Tất cả những gì Nam Cao để lại cho cuộc đời chính là rám gương của một người “trí thức trong thực vô ngần” luôn tự đấu tranh để vươn tới những cảnh sống và tâm hồn thật đẹp. Với những nét tiêu biểu như vậy, Nam Cao đã thể hiện qua một hệ thống các quan điểm sáng tác của mình trước cách mạng tháng Tám.

Quan điểm nghệ thuật của Nam Cao trước cách mạng tháng Tám được thể hiện qua “Trăng Sáng” và “Đời Thừa”. Trong “Trăng Sáng”, nhà văn quan niệm văn chương nghệ thuật phải “vị nhân sinh”, nhà văn phải viết cho hay, cho chân thực những gì có thật giữa cuộc đời, giữa xã hội mà mình đang sống. Ông viết “Chao ôi! Nghệ thuật không là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối! Nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp người lầm than”. Đó chính là quan điểm nghệ thuật của Nam Cao. Trước cách mạng, Nam Cao mang tâm sự u uất, ( chỗ này phải dùng dấu chấm phảy ; )đó không chỉ là tâm trạng của một người nghệ sĩ “tài cao, phận thấp, chí khí uất” (Tản Đà) mà đó còn là tâm sự của người người trí thức giàu tâm huyết nhưng lại bị xã hội đen tối bóp nghẹt sự sống. Nhưng Nam Cao không vì bất mãn cá nhân mà ông trở nên khinh bạc. Trái lại ông còn có một trái tim chan chứa yêu thương đối với người dân nghèo lam lũ. Chính vì lẽ đó mà văn chương của ông luôn cất lên “những tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than”.

Trong “Đời thừa”, một tác phẩm tiêu biểu của văn Nam Cao trước cách mạng, Nam Cao cũng có những quan điểm nghệ thuật( câu này thiếu vị ngữ : những quan điểm nghệ thuật gì ? Câu văn viết trúc trắc. Có thể rút gọn như sau : “ Với quan điểm nghệ thuật đầy tính nhân đạo, “Đời thừa” được coi là tác phẩm tiêu biểu của Nam Cao” ). Khi mà ta đã chọn văn chương nghệ thuật làm nghiệp của mình thì ta phải dồn hết tâm huyết cho nó, có như thế mới làm nghệ thuật tốt được. “Đói rét không có nghĩa lý gì đối với gã tuổi trẻ say mê lý tưởng. Lòng hắn đẹp. Đầu hắn mang một hoài bão lớn. Hắn khinh những lo lắng tủn mủn về vật chất. Hắn chỉ lo vun trồng cho cái tài của hắn ngày một thêm nảy nở. Hắn đọc, suy ngẫm, tìm tòi, nhận xét, suy tưởng không biết chán. Đối với hắn lúc ấy nghề thuật là tất cả, ngoài nghệ thuật không có gì đáng quan tâm nữa…”. Nam Cao còn quan niệm người cầm bút phải có lương tâm và trách nhiệm đối với bạn đọc, phải viết thận trọng và sâu sắc: “sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là sự bất lương rồi, còn sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện”. Với Nam Cao, bản chất của văn chương đồng nghĩa với sự sáng tạo “văn chương không cần đến những người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho, văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có”. Quan điểm của Nam Cao là một tác phẩm văn chương đích thực phải góp phần nhân đạo hóa tâm hồn bạn đọc: Nó phải chứa đựng một cái gì đó vừa lớn lao vừa cao cả, vừa đau đớn vừa phấn khởi: “Nó ca ngợi tình thương, lòng bác ái, sự công bình, nó làm người gần người hơn”.

Văn nghiệp của Nam Cao (1915-1951) chủ yếu được thể hiện trước cách mạng tháng Tám. Với quan điểm sáng tác thể hiện trong hai truyện “Trăng Sáng” và “Đời Thừa” giúp ta hiểu sâu hơn về Nam Cao. Qua đó, ta thấy được những đóng góp về nghệ thuật cũng như tư tưởng của Nam Cao cho văn học Việt Nam. Từ đấy giúp ta hiểu vì sao Nam Cao – một nhà văn chưa tròn bốn mươi tuổi lại để lại cho cuộc đời một sự nghiệp văn chương vĩ đại đến như vậy.( “Sự nghiệp văn chương vĩ đại” chỉ có thể dành cho Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương. Cho Nam Cao là nhà văn vĩ đại như bài văn này là thậm xưng, quá đáng. Có thể dùng từ “lớn” dành cho sự nghiệp của Nam Cao)

Câu 2 (5 điểm): Phân tích tâm trạng và hành động của nhân vật Mị trong đêm cứu A Phủ (Vợ chồng A Phủ – Tô Hoài).

Mị là nhân vật trung tâm trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” mà nhà văn Tô Hoài đã giành nhiều tài năng và tâm huyết để xây dựng ( Dùng từ ngữ không chuẩn : “ giành nhiều tài năng”. Có thể viết lại câu văn này cho thuận tai như sau : “ Mị là nhân vật trung tâm trong truyện ngắn “ Vợ chồng A phủ” mà nhà văn Tô Hoài đã xây dựng nên bằng tài năng và tâm huyết”) . Truyện được trích từ tập “truyện Tây Bắc” (1953) của Tô Hoài. Trong chuyến đi cùng bộ đội vào giải phóng miền Tân Bắc (1952), Tô Hoài đã có dịp sống sâu, cùng ăn, cùng ở với đồng bào các dân tộc miền núi, ( Chỗ này phải đánh dấu chấm thay cho dấu phảy) chính điều đó đã giúp Tô Hoài tìm được cảm hứng để viết truyện này. Tô Hoài thành công trong “Vợ chồng A Phủ” không chỉ do vốn sống, tình cảm sống của mình mà còn do tài năng nghệ thuật cùa một cây bút tài hoa. Trong “Vợ chồng A Phủ”, Tô Hoài đã sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật, trong đó nổi bật và đáng chú ý nhất là biện pháp phân tích tâm ý và hành động của Mị trong từng chặng đường đời. Điểm nghệ thuật ấy thật sự phát sáng và thăng hoa trong đoạn văn miêu tả tâm lý và hành động của nhân vật Mị trong đêm mùa đông cứu A Phủ. Qua đó ta thấy được giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm.

Trong tác phẩm này, điều gây cho bạn đọc ấn tượng nhất đó chính là hình ảnh của cô gái “dù làm bất cứ việc gì, cô ta cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi”. Đó là nét tâm lý của một con người cam chịu, buông xuôi trước số phận, hoàn cảnh sống đen tối đầy bi kịch. Sở dĩ Mị có nét tính cách ấy là do cuộc sống hôn nhân cưỡng bức giữa Mị và A Sử. Mị không được lấy người mình yêu mà phải ăn đời ở kiếp với một người mà mình sợ hãi, lạnh lùng. Một nguyên nhân nữa chính là do uy quyền, thần quyền, đồng tiền của nhà thống lý Pá Tra đã biến Mị thành một đứa con dâu gạt nợ. Mang tiếng là con dâu của một người giài có nhất vùng, nhưng thật sự Mị chỉ là một kẻ nô lệ không hơn không kém. Điều đó làm Mị đau khổ, Mị khóc ròng rã mấy tháng trời và từng có ý định ăn nắm lá ngón kết thúc cuộc đời mình. Thế nhưng “sống lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi”. Chính vì thế Mị đã buông xuôi trước số phận đen tối của mình, (Chỗ này phải đánh dấu chấm thay cho dấu phảy) trái tim của Mị dần chai sạn và mất đi nhịp đập tự nhiên của nó.

Song song với nét tính cách đó lại là tâm trạng của một người yêu đời, yêu cuộc sống, mong muốn thoát khỏi hoàn cảnh sống đen tối, đầy bi kịch. Điều đó đã được thể hiện trong đêm mùa xuân.
Trong đêm mùa xuân ấy, tâm trạng của Mị phát triển theo những cung bậc tình cảm khác nhau, cung bậc sau cao hơn cung bậc trước. Ban đầu, Mị nghe tiếng sáo Mèo quen thuộc, Mị nhẩm thầm bài hát người đang thổi rồi Mị uống rượu và nhớ lại kỷ niệm đẹp thời xa xưa… Mị ý thức được về bản thân và về cuộc đời rồi Mị muốn đi chơi. Nhưng sợi dây thô bạo của A Sử đã trói đứng Mị vào cột. Thế nhưng sợi dây ấy chỉ có thể “trói” được tâm hồn của một cô gái đang hòa nhập với mùa xuân, với cuộc đời( Sợi dây trói kia chỉ có thể trói được thân xác Mị, làm sao trói được tâm hồn Mị ? Viết như bài văn này là chưa hiểu giá trị của thiên truyện). Đêm ấy thật là một đêm có ý nghĩa với Mị. Đó là đêm cô thực sự sống cho tiêng mình sau hàng ngàn đêm cô sống vật vờ như một cái xác không hồn. Đó là một đêm cô vượt lên uy quyền và bạo lực đế sống theo tiếng gọi trái tim mình.

Sau đêm mùa xuân ấy, Mị lại tiếp tục sống kiếp đời trâu ngựa. Thế nhưng viết về vấn đề này, Tô Hoài khẳng định: cái khổ cái nhục mà Mị gánh chịu như lớp tro tàn phủ khuất che lấp sức sống tiềm tàng trong lòng Mị. Và chỉ cần có một luồng gió mạnh đủ sức thổi đi lớp tro buồn nguội lạnh ấy thì đốm lửa ấy ( thay “ấy” bằng “kia” mới thuận tai) sẽ bùng cháy và giúp Mị vượt qua cuộc sống đen tối của mình. Giá trị nhân đạo của tác phẩm ngời lên ở chỗ đó.

Và cuối cùng, luồng gió ấy cũng đến. Đó chính là những đêm mùa đông dài và buồn trên núi rừng Tân Bắc đang về. Mùa đông rét buốt như cắt da cắt thịt, vì thế đêm nào Mị cũng ra bên ngoài bếp lửa để thổi lửa hơ tay. Trong những đêm đó Mị gặp A Phủ đang bị trói đứng chờ chết giữa trời giá rét. Thế nhưng Mị vẫn thản nhiên thổi lửa hơ tay “dù A Phủ là cái xác chết đứng đó cũng thế thôi”. Tại sao Mị lại lãnh cảm, thờ ơ trước sự việc ấy? Phải chăng việc trói người đến chết là một việc làm bình thường ở nhà thống lý Pá Tra và ai cũng quen với điều đó nên chẳng ai quan tâm đến. Hay bởi Mị “sống lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi” nên Mị lãnh đạm, thờ ơ trước nỗi đau khổ của người khác. Một đêm nữa lại đến, lúc đó mọi người trong nhà đã ngủ yên cả rồi, Mị lại thức dậy đến bếp đốt lửa lên để hơ tay. Lửa cháy sáng, “Mị lé mắt trông sang, thấy hai mắt A Phủ cũng vừa mở, một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại”. Đó là dòng nước mắt của một kẻ nô lệ khi phải đối mặt với cái chết đến rất gần. Chính “dòng nước mắt lấp lánh ấy” đã làm tan chảy lớp băng giá lạnh trong lòng Mị. Lòng Mị chợt bồi hồi trước một người, rừng ( “cùng” viết thành “rừng”, trong bài nhiều lỗi chính tả quá, chắc là do người đánh máy vi tính ?) cảnh ngộ. Đêm mùa xuân trước Mị cũng bị A Sử trói đứng thế kia, có nhiều lần khóc nước mắt rơi xuống miệng, xuống cổ không biết lau đi được. Mị chợt nhận ra người ấy giống mình về cảnh ngộ, mà những người cùng cảnh ngộ rất dễ cảm thông cho nhau. Mị nhớ lại những chuyện thật khủng khiếp lúc trước kia, “chúng nó bắt trói đến chết người đàn bà ngày trước cũng ở trong cài nhà này”. Lí trí giúp Mị nhận ra “Chúng nó thật độc ác”. Việc trói người đến chết còn các hơn cả thú dữ trong rừng. Chỉ vì bị hổ ăn mất một con bò mà một người thanh niên khỏe mạnh, siêng năng, say sưa với cuộc đời đã phải lấy mạng mình thay cho nó. Bọn thống trị coi sinh mạng của A Phủ không bằng một con vật. Và dẫu ai phạm tội như A Phủ cũng bị xử phạt như thế mà thôi. Nhớ đến những chuyện ngày trước, trở về với hiện tại, Mị đau khổ cay dắng cho thân phận của mình: “Ta là thân đàn bà chúng nó đẵ bắt ta về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết chờ ngày rũ xương ở đây thôi”. Nghĩ về mình, Mị lại nghĩ đến A Phủ “có chừng này chỉ đêm nay thôi là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết. Người kia việc gì mà phải chết như thế. A Phủ…. Mị phảng phất nghĩ như vậy”. Thật sự, chẳng có lí do gì mà bọn thống lí Pá Tra bắt A Phủ phải chết vì cái tội để mất một con bò! Trong đầu Mị bỗng nhiên nghĩ đến cảnh A Phủ bỏ trốn và chính Mị sẽ là người chết thay cho A Phủ trên cái cột tưởng tượng đó. Thế nhưng, Mị vẫn không thấy sợ, sự suy tưởng của Mị là có cơ sở của nó. Cha con Pá Tra đã biến Mị từ một con người yêu đời, yêu cuộc sống, tài hoa chăm chỉ, hiếu thảo, tha thiết với tình yêu thành một con dâu gạt nợ, một kẻ nô lệ đúng nghĩa, ( Chỗ này phải thay dấu chấm vào dấu phảy) chúng đã tàn ác khi trói một người đàn bà ngày trước đến chết thì chẳng lẽ chúng lại không đối xử với Mị như thế ư? Như vậy, chứng kiến “dòng nước mắt lấp lánh” của A Phủ, tâm trạng của Mị diễn biến phức tạp. Mị thông cảm với người cùng cảnh ngộ, ( Thay dấu chấm vào dấu phảy)Mị nhớ đến chuyện người đàn bà ngày trước, lí trí giúp Mị nhận ra bọn lãnh chúa phong kiến thật độc ác, ( thay dấu chấm vào dấu phảy)Mị xót xa trước số phận của mình rồi Mị lại nghĩ đến A Phủ; sau đó Mị lại tưởng tượng đến cái cảnh mình bị trói đứng… Một loạt nét tâm lí ấy thúc đẩy Mị đến với hành động: dùng dao cắt lúa rút dây mây cởi trói cho A Phủ. Đó là một việc làm táo bạo và hết sức nguy hiểm nhưng nó phù hợp với nét tâm lí của Mị trong đêm mùa đông này. Sau khi cắt dây cởi trói cho A Phủ, Mị cũng không ngờ mình dám làm một chuyện động trời đến vậy. Mị thì thào lên một tiếng “đi ngay” rồi Mị nghẹn lại. A Phủ vùng chạy đi còn Mị vẫn đứng lặng trong bóng tối. Ta có thể hình dung được nét tâm lí ngổn ngang trăm mối của Mị lúc này. Lòng Mị rối bời với trăm câu hỏi: Vụt chạy theo A Phủ hay ở đây chờ chết?. Thế là cuối cùng sức sống tiềm tàng đã thôi thúc Mị phải sống và Mị vụt chạy theo A Phủ. Trời tối lắm nhưng Mị vẫn băng đi. Bước chân của Mị như đạp đổ uy quyền, thần quyền của bọn lãnh chúa phong kiến đương thời đã đè nặng tâm hồn Mị suốt bao nhiêu năm qua. Mị đuổi kịp A Phủ và nói lời đầu tiên. Mị nói với A Phủ sau bao nhiêu năm câm nín: “A Phủ. Cho tôi đi! Ở đây thì chết mất”. Đó là lời nói khao khát sống và khát khao tự do của nhân vật Mị. Câu nói ấy chứa đựng biết bao tình cảm và làm quặn đau trái tim bạn đọc. Đó chính là nguyên nhân – hệ quả của việc Mị cắt đứt sợi dây vô hình ràng buộc cuộc đời của mình. Thế là Mị và A Phủ dìu nhau chạy xuống dốc núi. Hai người đã rời bỏ Hồng Ngài – một nơi mà những kỉ niệm đẹp đối với họ quá ít, còn nỗi buồn đau, tủi nhục thì chồng chất không sao kể xiết. Hai người rời bỏ Hồng Ngài đến Phiềng Sa, nhưng những ngày phía trước ra sao họ cũng chưa biết đến…

Rõ ràng, trong đêm mùa đông này, sức sống tiềm tàng đóng một vai trò hết sức quan trọng( Câu văn này thiếu chủ ngữ : sức sống tiềm tàng của ai ?). Chính nó đã giúp Mị vượt lên trên số phận đen tối của mình. Mị cứu A Phủ cũng đồng nghĩa với việc Mị tự cứu lấy bản thân mình. Qua đoạn trích trên, Tô Hoài đã ca ngợi những phẩm chất đẹp đẽ của người phụ nữ miền núi nói riêng và những người phụ nự Việt Nam nói chung. Tô Hoài đã rất cảm thông và xót thương cho số phận hẩm hiu, không lối thoát của Mị. Thế nhưng bằng một trái tim nhạy cảm và chan chứa yêu thương, Tô Hoài đã phát hiện và ngợi ca đốm lửa còn sót lại trong trái tim Mị. Tư tưởng nhân đạo của nhà văn sáng lên ở đó. Đồng thời qua tác phẩm, Tô Hoài cũng đã khẳng định được chân lí muôn đời: ở đâu có áp bức bất công thì ở đó có sự đấu tranh để chống lại nó dù đó là sự vùng lên một cách tự phát như Mị. Quả thật qua đó tác phẩm này giúp ta hiểu được nhiều điều trong cuộc sống.

Với truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” nói riêng và tập “Truyện Tây Bắc” nói chung, ta hiểu vì sao Tô Hoài lại thành công trong thể loại truyện ngắn đến như vậy. Nét phong cách nghệ thuật: màu sắc dân tộc đậm đà chất thơ chất trữ tình thấm đượm, ngôn ngữ lời văn giàu tính tạo hình đã hội tụ và phát sáng trong truyện ngắn này. Tác phẩm “Truyện Tây Bắc” xứng đáng với giải nhất truyện ngắn – giải thương do Hội nghệ sĩ Việt Nam trao tặng năm 1954 – 1955. Và “Vợ chồng A Phủ” thực sự để lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng bạn đọc bởi những giá trị nghệ thuật, giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của nó. Truyện ngắn này quả là một truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách Tô Hoài.
Đối với riêng em, truyện “Vợ chồng A Phủ” giúp em cảm thông sâu sắc trước nỗi khổ của người phụ nữ trong xã hội phong kiến miền núi, từ đó giúp em ngày càng trân trọng khát vọng của họ hơn. Đây quả là một tác phẩm văn chương đích thực bởi nó đã góp phần nhân đạo hóa tâm hồn bạn đọc như Nam Cao đã quan niệm trong truyện ngắn “Đời thừa”.

Phần riêng (3 điểm): Cảm nhận về đoạn thơ sau trong bài “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử:
Gió theo lối gió mây đường mây
Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?

Cảm nhận thơ trữ tình xét cho cùng là cảm nhận “cái tình” trong thơ và tâm trạng của nhân vật trữ tình trước thiên nhiên, vũ trụ, đất trời. Đến với thơ ca lãng mạn Việt Nam, giai đoạn 1932 -1945 “ta thoát lên trên ( “tiên” viết nhầm thành “trên”)cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng cùng Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu” (Hòa Thanh – Thi nhân Việt Nam). Đúng thế, bạn đọc đương thời và hôm nay yêu thơ của Hàn Mặc Từ bởi chất “điên cuồng” của nó. Chính “chất điên” ấy đã làm nên phong cách nghệ thuật độc đáo, riêng biệt, mới mẻ của Hàn Mặc Tử( “chất điên” là phong cách nghệ thuật …của Hàn Mặc Tử ? Qúa bậy !). “Chất điên” trong thơ ông chính là sự thay đổi của tâm trạng khó lường trước được. Nét phong cách đặc sắc ấy đã hội tụ và phát sáng trong cả bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của nhà thơ rất tài hoa và cũng rất đỗi bất hạnh này. “Đây thôn Vĩ Dạ” trích từ tập Thơ Điên của Hàn Mặc Tử. Chất điên cuồng ấy thể hiên cụ thể và rõ nét trong khổ thơ:

“Gió theo lối gió mây đường mây
Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?”
( Khổ thơ trên chẳng có chút “điên cuồng” nào ? Sao các thầy ( hay sách giáo khoa?) lại dạy dỗ con em chúng ta bậy bạ như thế này ?)

Với lời trách cứ nhẹ nhàng dịu ngọt vừa như một lời mời, Hàn Mặc Tử trở về với thôn Vĩ Dạ trong mộng tưởng:
“Sao anh không về chơi thôn Vĩ
Nhìn nắng hàng cây nắng mới lên ( sửa thơ Hàn : “cau” thành “cây”)
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

Cảnh vật ở thôn Vĩ Dạ – một làng kề sát thành phố Huế bên bờ Hương Giang với những vườn cây trái, hoa lá sum suê hiện lên thật nên thơ, tươi mát làm sao. Đó là một hàng cau thẳng tắp đang tắm mình dưới ánh “nắng mới lên” trong lành. Chưa hết, rất xa là hình ảnh “nắng hàng cau nắng mới lên” còn rất gần lại là “vườn ai mướt quá xanh như ngọc”. “Mướt quá” gợi cả cây nhung non tràn trề sức sống xanh tốt. Màu “mướt quá” làm cho lòng người như trẻ hơn và vui tươi hơn. Lời thơ khen cây cối xanh tốt nhưng lại nhu huyền ảo, lấp lánh mới thấy hết cẻ đẹp của “vườn ai”. Trong không gian ấy hiện lên khuôn “mặt chữ điền” phúc hậu, hiền lành vừa quen vừa lạ, vừa gần, vừa xa, vừa thực vừa ảo bởi “lá trúc che ngang”( Sao lại có người đẹp “mặt vuông” = mặt chữ điền thế này, các thầy dạy thế thì bằng giết chết thơ Hàn mất !). Câu thơ đẹp vì sự hài hòa giữa cảnh vật và con người. “Trúc xinh” và “ai xinh” bên nhau làm tôn lên vẻ đẹp của con người. Như vậy tâm trạng của nhân vật trữ tình ở đoạn thơ này là niềm vui, vui đến say mê như lạ vào cõi tiên, cõi mộng khi được trở về với cảnh và người thôn Vĩ.

Thế nhưng cũng cùng không gian là thôn Vĩ Dạ nhưng thời gian có sự biến đổi từ “nắng mới lên” sang chiều tà. Tâm trạng của nhân vật trữ tình cũng có sự biến đổi lớn. Trong mắt thi nhân, bầu trời hiện lên “Gió theo lối gió mây đường mây” trong cảnh chia li, uất hận ( Làm gì có uất hận trong câu thơ này ! Xin lạy các thầy soạn sách giáo khoa, các thầy hiểu sai hoàn toàn bài thơ Hàn nên học trò mới làm luận văn như thế này !). Biện pháp nhân hóa cho chúng ta thấy điều đó. “Gió theo lối gió” theo không gian riêng của mình và mây cũng thế. Câu thơ tách thành hai vé đối nhau; mở đầu vế thứ nhất là hình ảnh “gió”, khép lại cũng bằng gió; mở đầu vế thứ hai là “mây”, kết thúc cũng là “mây”. Từ đó cho ta thấy “mây” và “gió” như những kẻ xa lạ, quay lưng đối với nhau. Đây thực sự là một điều nghịch lí bởi lẽ có gió thổi thì mây mới bay theo, thế mà lại nói “gió theo lối gió, mây đường mây”. Thế nhưng trong văn chương chấp nhận cách nói phi lí ấy. Tại sao tâm trạng của nhân vật trữ tình vốn rất vui sướng khi về với thôn Vĩ Dạ trong buổi ban mai đột nhiên lại thay đổi đột biến và trở nên buồn như vậy?. Trong mộng tưởng, Hàn Mặc Tử đã trở về với thôn Vĩ nhưng lòng lại buồn chắc có lẽ bởi mối tình đơn phương và những kỉ niệm đẹp với cảnh và người con gái xứ Huế mộng mơ làm nên tâm trạng ấy. Quả thật “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” nên cảnh vật xứ Huế vốn thơ mộng, trữ tình lại bị nhà thơ miêu tả vô tình, xa lạ đến như vậy( Nói “nhà thơ miêu tả vô tình” là giết chết bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ rồi thưa các thầy đã dạy cho các em ta cảm thơ như thế này !). Bầu trời buồn, mặt đất cũng chẳng vui gì hơn khi “Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay”.

Dòng Hương Giang vốn đẹp, thơ mộng đã bao đời đi vào thơ ca Việt nam thế mà bây giờ lại “buồn thiu” – một nỗi buồn sâm thẳm, không nói nên lời. Mặt nước buồn hay chính là con sóng lòng “buồn thiu” của thi nhân đang dâng lên không sao giấu nỗi. Lòng sông buồn, bãi bờ của nó còn sầu hơn. “Hoa bắp lay” gợi tả những hoa bắp xám khô héo, úa tàn đang “lay” rất khẽ trong gió. Cảnh vật trong thơ buồn đến thế là cùng. Thế nhưng đêm xuống, trăng lên, tâm trạng của nhân vật trữ tình lại thay đổi:

“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay”

Sông Hương “buồn thiu” lúc chiều dưới ánh trăng đã trở thành “sông trăng” thơ mộng. Cắm xào ( “Sào” chứ không phải “xào”) đậu bên trên con sông đó là “thuyền ai đậu bến”, là bức tranh càng trữ tình, lãng mạn. Hình ảnh “thuyền” và “sông trăng” đẹp, hài hòa biết bao. Khách đến thôn Vĩ cất tiếng hỏi xa xăm “Có chở trăng về kịp tối nay?”. Liệu “thuyền ai” đó có chở trăng về kịp nơi bến hẹn, bến đợi hay không? Câu hỏi tu từ vang lên như một nỗi lòng khắc khoải, chờ đợi, ngóng trông được gặp gương mặt sáng như “trăng’ của người thôn Vĩ trong lòng thi nhân. Như thế mới biết nỗi lòng của nhà thơ giành cho cô em gái xứ Huế tha thiết biết nhường nào. Tình cảm ấy quả thật là tình cảm của “Cái thưở ban đầu lưu luyến ấy. Ngàn năm nào dễ mấy ai quên” (Thế Lữ).

Đến đây ta hiểu thêm về lòng “buồn thiu” của nhân vật trữ tình trong buổi chiều. Như vậy diễn biến tâm lí của thi nhân hết sức phức tạp, khó lường trước được. Chất “điên” của một tâm trạng vui với cảnh, buồn với cảnh, trông ngoáng, chờ đợi vẫn được thể hiện ở khổ thơ kết thúc bài thơ này:
“Mơ khách đường xa khách dường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?”
( Kiếm đâu ra “chất điên” trong khổ thơ này thế ?Nếu sách giáo khoa dạy các em ta như thế này thì các thầy soạn sách quá dốt nát !)

Vẫn là một tâm trạng vui sướng được đón “khách đường xa” – người thôn Vĩ đến với mình, tâm trạng nhân vật trữ tình lại khép lại trong một nỗi đau đớn, hoài nghi “Ai biết tình ai có đậm đà?”. “Ai” ở đây vừa chỉ người thôn Vĩ vừa chỉ chính tác giả. Chẳng biết người thôn Vĩ có còn nặng tình với mình không? Và chẳng biết chính mình còn mặn mà với “áo em trắng quá” hay không? Nỗi đau đớn trong tình yêu chính là sự hoài nghi, không tin tương về nhau. Nhân vật trữ tình rơi vào tình trạng ấy và đã bộc bạch lòng mình để mọi người hiểu và thông cảm. Cái mới của thơ ca lãng mạn giai đoạn 1932 – 1945 cũng ở đó.

Đọc xong bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử, nhất là khổ thơ “Gió theo lối gió -…. kịp tối nay” để lại trong lòng người đọc những tình cảm đẹp. Đoạn thơ giúp ta hiểu thêm tâm tư của một nhà thơ sắp phải giã từ cuộc đời. Lời thơ vì thế trầm buồn, sâu lắng, đầy suy tư. Bạn đọc đương thời yêu thơ của Hàn Mặc Tử bởi thi nhân đã nói hộ họ những tình cảm sâu lắng nhất, thầm kín nhất của mình trong thời đại cái “tôi”, cái bãn ngã đang tự đấu tranh để khẳng định. Tình cảm trong thơ Hàn Mặc tử là tình cảm thực do đó nó sẽ ở mãi trong trái tim bạn đọc. Ấn tượng về một nhà thơ của đất Quảng Bình đây nắng và gió sẽ không bao giờ phai nhạt trong tâm trí người Việt Nam.